Nguyễn Chính Kết
- (LTS: Bài này thuyết trình tại Hội Thảo Chính Trị: Định Hướng Đấu
Tranh Cho Việt Nam Tự Do ngày Chủ Nhật 15-4-2012 tại Westminster,
Califrornia.
Giới thiệu về Giáo sư Nguyễn Chính Kết:
Sinh
năm 1952, tại tỉnh Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội. Thời niên thiếu, ông tu
học để sau này thành linh mục tại tiểu chủng viện thánh Giuse, Sàigòn và
tại Giáo Hoàng Học Viện Piô X, Đà Lạt, đồng thời học Triết Học tại Đại
học Đà Lạt.
Sau khi xuất tu ông tiếp
tục phục vụ Giáo Hội Công giáo, nghiên cứu Kinh Thánh và thần học Á
châu, viết báo, viết sách, dạy triết học tại một số tu viện tại Sàigòn,
cộng tác với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trong một vài tiểu ban của Hội
Đồng về Giáo dân,
Đầu năm 2001, ông
bắt đầu lên tiếng ủng hộ cuộc tranh đấu cho tự do tôn giáo của Lm Nguyễn
Văn Lý bằng những bài viết trên mạng Internet.
Tháng
3-2001, ông cùng giáo sư Đỗ Hữu Nghiêm thành lập văn phòng đối lập theo
đề nghị của HT Thích Quảng Độ. Sự việc này bị lộ, Gs Nghiêm và ông bị
công an đến xét nhà, tịch thu máy vi tính, các dĩa CD và floppy, nhiều
tài liệu dân chủ, và bị thẩm vấn liên tục suốt một tháng và lai rai
nhiều tháng sau đó.
Cuối năm 2005,
ông bắt đầu liên kết với các nhà đấu tranh dân chủ và nhân quyền khác,
đồng thời mở rộng phạm vi đấu tranh sang lãnh vực nhân quyền và tự do
dân chủ.
Tháng 4-2006, ông tham gia thành lập Khối 8406, trở thành một thành viên tích cực của Khối này.
Ngày
16/10/2006, ông tham gia thành lập Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt
Nam 2006, và là một thành viên trong Ban Điều Hành của Liên Minh.
Giữa
tháng 11/2006, ông Đỗ Nam Hải và ông được Mạng Lưới Nhân quyền tại Nam
Cali mời sang lãnh giải nhân quyền do mạng lưới trao giải. Cuối tháng
12, ông đã đến Hoa Kỳ bằng cách qua nẻo Cambodge.
Ông cũng được Human Rights Watch trao giải thưởng Nhân quyền năm 2007 cùng với 7 nhà đấu tranh Việt Nam khác.
Ngày
18-10-2007, ông được Ban Đại Diện Lâm Thời Khối 8406 bổ nhiệm làm thành
viên Ban Đại Diện của Khối 8406 và là Đại Diện của Khối 8406 tại hải
ngoại.)
Hiện nay, CSVN đang phải chịu áp lực nghịch chiều nhau từ nhiều phía:
- Áp lực từ ngoài vào hay áp lực quốc tế:
–
từ Trung cộng: nhằm xâm lược Việt Nam, duy trì chế độ cộng sản tại Việt
Nam, buộc CSVN nhượng đất nhượng biển và đàn áp những ai phản đối việc
Trung cộng xâm phạm lãnh thổ Việt Nam.
– từ Thế giới Tự do: buộc Việt Nam tôn trọng nhân quyền.
-
Áp lực từ bên trong hay từ người dân trong nước: đòi hỏi CSVN tôn trọng
nhân quyền, tôn trọng quyền tự quyết của người dân, và thay đổi chế độ.
Giữa
hai thứ áp lực quốc tế ngược chiều nhau, CSVN phải chấp nhận thế đu
giây để tồn tại. Tuy nhiên, thế đu giây này cũng có một lợi điểm cho
CSVN: Cả Trung cộng lẫn các nước tự do đều không dám áp lực CSVN quá
mạnh, vì điều đó sẽ đẩy CSVN vào vòng tay của phía đối nghịch.
Đối
với áp lực từ phía người dân hiện còn yếu, CSVN chủ trương đàn áp mạnh
tay, tiêu diệt từ trong trứng nước mọi liên kết, mọi tổ chức… nhưng có
thực hiện được hay không còn tùy thuộc vào áp lực nhân quyền từ phía thế
giới tự do.
I. Áp lực quốc tế
Hiện nay, CSVN đang bị hai thứ áp lực quốc tế ngược chiều nhau, cả hai đều rất mạnh, khiến CSVN lâm vào thế rất khó xử:
A) Áp lực từ Trung cộng:
Áp
lực này buộc CSVN phải làm nhiều điều bất lợi cho quyền lợi cũng như
cho sự sống còn và phát triển của dân tộc, như nhượng đất nhượng biển
cho Trung cộng, đàn áp những người yêu nước muốn bảo vệ sự toàn vẹn lãnh
thổ… CSVN phải chấp nhận áp lực này để được Trung cộng bảo hộ cho chế
độ độc tài, hà khắc và đầy tội ác của mình.
Lý do khiến Việt Nam chịu áp lực:
–
Địa thế Việt Nam giáp ranh Trung Quốc: Việt Nam là một nước nhỏ bé bên
cạnh một nước lớn luôn luôn có tham vọng bành trướng lãnh thổ. Từ bao
thế kỷ, Trung Quốc luôn luôn muốn biến nước ta thành một quận huyện của
họ. Họ đã xâm lược Việt Nam nhiều lần, và đã từng cai trị đất nước ta cả
ngàn năm. Chống ngoại xâm, cụ thể là chống Trung Quốc, là một chủ đề
chính trong lịch sử Việt Nam.
– Trung
cộng có nhu cầu giải quyết nạn nhân mãn và nhu cầu kinh tế cho người
dân quá đông: Dân Trung Quốc quá đông, nằm sâu trong đại lục, không có
nhiều đường biển để giao thương với thế giới. Việt Nam là một vị trí rất
thuận lợi cho sự giao thương quốc tế, lại có nhiều mỏ (dầu, than, vàng
bạc, uranium), nên là một cám dỗ rất lớn cho mộng xâm lược của Trung
cộng hiện nay.
– CSVN mắc nợ Trung
cộng quá nhiều trong việc cướp chính quyền cả hai miền Bắc Nam: Hồ Chí
Minh đã cậy dựa, nhờ sự giúp đỡ và vay mượn nhiều mặt của Trung cộng (võ
khí, lương thực, cố vấn chiến lược - chiến thuật…) để cướp chính quyền ở
Miền Bắc năm 1945, và tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam suốt
2 thập niên (1954-1975). Khi đã chiếm được trọn cả đất nước, CSVN phải
trả nợ Trung cộng bằng sự lệ thuộc, bằng lãnh thổ lãnh hải, bằng quyền
lợi dân tộc.
– Trung cộng đã cài được
người của họ vào bộ máy cai trị của CSVN ở thượng tầng cũng như hạ tầng
cơ sở (sau hàng mấy chục năm cậy nhờ vào Trung cộng): Qua những tên tay
sai được cài vào bộ máy cai trị của CSVN, Trung cộng đang thật sự điều
hành bộ máy cai trị của CSVN, khiến cho rất nhiều quyết định của Đảng,
Bộ Chính trị, ba ngành Lập Pháp – Hành Pháp – Tư Pháp có lợi cho Trung
cộng. Những người trong bộ máy cai trị có tinh thần dân tộc, không chấp
nhận Trung cộng, có khuynh hướng thân Mỹ, thường không dám biểu lộ lập
trường chống Trung cộng vì sợ bị thanh trừng (bị mất quyền lợi, địa vị,
tài sản, có thể mất mạng). Nên phe thân Trung cộng trong bộ máy cai trị
vẫn chiếm ưu thế, họ đang nắm được cả công an lẫn quân đội (1).
–
CSVN sẵn sàng chấp nhận áp lực của Trung cộng: Mục đích tối hậu của
Trung cộng là xâm chiếm Việt Nam để giải quyết nạn nhân mãn và nhu cầu
kinh tế, giao thương với thế giới. Mục đích tối hậu của CSVN là duy trì
chế độ độc tài để tiếp tục cưỡi đầu cưỡi cổ dân tộc. Cùng chủ trương độc
tài như CSVN, Trung cộng sẵn sàng bảo trợ cho chế độ độc tài của CSVN
được sống còn, nên CSVN sẵn sàng nhượng bộ trước những áp lực của Trung
cộng.
B) Áp lực từ những nước tự do dân chủ:
Các
quốc gia tự do thường có lý tưởng dân chủ, họ chủ trương phổ biến và
phát huy tinh thần tự do, dân chủ và nhân quyền đến mọi dân tộc. Nhưng
họ cũng có nhu cầu phát triển kinh tế và giao thương với mọi dân tộc.
Các nước này tùy theo tình hình từng thời điểm mà ưu tiên cho lý tưởng
dân chủ hay cho nhu cầu phát triển. Hiện nay, tình hình kinh tế toàn cầu
đang gặp khủng hoảng, các nước tự do thường ưu tiên đặt nặng việc giải
quyết kinh tế hơn lý tưởng dân chủ.
Với
lý tưởng dân chủ, các quốc gia tự do đòi buộc CSVN phải tôn trọng nhân
quyền, quyền tự do của người dân, không được đàn áp dân chúng, phải trả
tự do cho các tù nhân lương tâm… CSVN cần giao thương với các nước dân
chủ vốn giàu có trên thế giới và muốn được họ viện trợ về nhiều mặt. Các
nước dân chủ thường lợi dụng nhu cầu này của CSVN để áp lực CSVN phải
tôn trọng nhân quyền. CSVN buộc phải chấp nhận áp lực này để có thể giao
thương với các nước tự do hầu phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, áp lực quốc tế lên CSVN về mặt nhân quyền rất giới hạn, vì:
?
Vì tình hình kinh tế khó khăn hiện nay trên toàn thế giới, các quốc gia
tự do muốn giao thương với Việt Nam để có lợi về kinh tế, chính trị,
nên không muốn khó dễ Việt Nam về mặt nhân quyền hầu tránh những bất lợi
về mặt ngoại giao và giao thương…
?
CSVN đặt ưu tiên việc bảo vệ chế độ hơn việc phát triển kinh tế, nên
CSVN chỉ chấp nhận nhượng bộ áp lực nhân quyền trong mức độ không nguy
hiểm cho sự tồn tại của chế độ. Áp lực quốc tế về nhân quyền dù có mạnh,
nhưng nếu nguy hiểm cho sự tồn tại của chế độ, CSVN sẽ bất chấp: thà bị
quốc tế trừng phạt còn hơn để mất quyền lực và bị nhân dân lật đổ.
?
Các quốc gia tự do không dám áp lực mạnh về nhân quyền vì sợ CSVN đứng
hẳn về phía Trung cộng để nước này bảo vệ cho chế độ độc tài của mình.
Điều này có thể bất lợi cho dân tộc Việt Nam (2).
?
Các nước tự do cần giao thương với Trung cộng, một thị trường lớn rất
béo bở và giá nhân công rẻ, nên có khi phải nhân nhượng trước những yêu
cầu của Trung cộng trong vấn đề Việt Nam.
II. Sự phản kháng của quần chúng quốc nội
A) Nguyên nhân:
Càng ngày CSVN càng lộ rõ bản chất là:
–
một đảng cướp, tham tàn: cướp đất đai, tài sản, kể cả những kẻ nghèo
nhất... cướp cả những quyền căn bản của người dân, kể cả quyền tự vệ…
dùng cả một hệ thống nhà nước với 3 ngành lập pháp, tư pháp và hành pháp
để ăn cướp… sẵn sàng dồn người dân vào đường cùng, không còn đường
sống.
– tham quyền cố vị, độc tài
toàn trị: bảo vệ bằng bất cứ giá nào độc quyền cai trị, độc quyền ăn
cướp, độc quyền cưỡi đầu cưỡi cổ nhân dân…
–
một tập đoàn buôn dân bán nước: đã từng bán đất bán biển và sẵn sàng
bán cả đất nước cho ngoại bang, bất chấp hậu quả tai hại khôn lường cho
cả dân tộc.
B) Sự phản kháng của người dân:
Trước
những hành động gian ác của CSVN, dân chúng kẻ trước người sau ngày
càng ý thức được bản chất xấu xa của CSVN và ngày càng phẫn nộ, nên có
khuynh hướng phản kháng, đòi công lý, muốn thay đổi chế độ. Người dân
ngày càng có nhiều người vượt thắng được nỗi sợ hãi cố hữu để đấu tranh,
không chỉ với tư cách cá nhân, mà còn liên kết thành phong trào, tổ
chức đấu tranh:
– đòi dân chủ, nhân
quyền: Khối 8406, Đảng Thăng Tiến, Đảng Dân chủ 21, Liên minh dân chủ
nhân quyền, Công Đoàn Độc Lập, Lực lượng Đoàn Kết Công Nông, Ủy ban Nhân
quyền Việt Nam...
– đòi công bằng xã hội: dân oan biểu tình đòi đất, giáo xứ Thái Hà, Cồn Dầu… công nhân đình công…
–
đòi toàn vẹn lãnh thổ: giới trí thức sinh viên biểu tình chống Trung
cộng, phản đối CSVN tiếp tay bán nước… Biểu tình chống rước đuốc Olympic
Bắc Kinh (tháng 4/2008), biểu tình đòi Hoàng Sa, Trường Sa tại Hà Nội
và Sàigòn (tháng 6,7,8/2011),
Phương
cách đấu tranh: ôn hòa, bất bạo động, tránh vi phạm luật (kẻo bị kết
án), chỉ sử dụng những phương tiện tốt... Nhưng khi bị dồn đến đường
cùng, người dân đôi khi sẵn sàng bạo động để tự vệ: vụ Đoàn Văn Vươn, vụ
Bắc Giang, vụ Mường Nhé, vụ Long Thành (xã Long Hưng)...
Phương
tiện đấu tranh: sử dụng mọi phương tiện thông tin (Internet, web, blog,
facebook, twitter, email, paltalk, viết bài, truyền đơn, biểu ngữ…), âm
thầm liên kết, biểu tình...
Người dân khi chống lại bạo quyền, tuy có chính nghĩa, có tiềm năng rất lớn, nhưng không có thực lực...
– do thiếu tổ chức, thiếu lãnh đạo, thiếu tài chánh...
– không được đào tạo (về chính trị, quân sự, óc tổ chức, kỹ thuật lãnh đạo, khả năng giữ bí mật)…
– đấu tranh mang tính tự phát, mạnh ai nấy làm, không có kế hoạch chung, đường lối chung…
– dễ bị chia rẽ, do kế ly gián của cộng sản và do đố kỵ, do nghi ngờ nhau (không phân biệt được Ta, Bạn và Thù)...
C) Sự đàn áp của bạo quyền:
CSVN
cương quyết bảo vệ độc quyền cai trị đất nước với bất cứ giá nào, bất
chấp đạo lý, quyền lợi của dân tộc, nên quyết tâm sử dụng bạo lực để dẹp
tan từ trứng nước mọi mầm mống phản đối, đòi công lý, tự do, nhân
quyền, dân chủ, tiêu diệt mọi tổ chức, bẻ gãy mọi liên kết đấu tranh
chống lại họ.
Nhờ kinh tế phát triển,
nhờ tiền viện trợ từ nhiều nước, nhờ đồng bào hải ngoại gửi tiền về cho
thân nhân trong nước, nhờ tiền thuế của nhân dân, Đảng và Nhà Nước rất
giàu có, có thể trả lương công an, cán bộ rất cao để họ sẵn sàng bảo vệ
chế độ, ngăn chặn những ai đòi hỏi tự do, nhân quyền, có ảnh hưởng xấu
đến chế độ.
Ngoài ra, họ còn có đầy
đủ phương tiện để đàn áp dân chúng: quyền lực, luật pháp, công an, quân
đội, tòa án, võ khí, súng đạn, tiền bạc... Nhờ tình báo nằm vùng được
cài trà trộn trong mọi giới dân chúng, khả năng nghe lén điện thoại, đọc
lén email, họ có thể có thông tin đầy đủ về mọi động thái chống đối của
dân chúng để sẵn sàng tiêu diệt đối kháng (3).
III. Áp dụng vào cuộc đấu tranh dân chủ Việt Nam
A) Phải tự lực, đừng mong đợi quá nhiều nơi áp lực quốc tế
Trong
cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ của quê hương đất nước, chúng ta cần
vận động sự ủng hộ của quốc tế, yêu cầu các nước tự do áp lực lên CSVN.
Tuy nhiên, chúng ta không nên trông cậy quá nhiều vào sự giúp đỡ của
quốc tế, mà phải tìm cách phát triển nội lực của chính chúng ta. Theo
nhận định của cụ Phan Chu Trinh, người Việt có tính vọng ngoại và yêu
nước kiểu hẹp hòi. Tính vọng ngoại khiến ta trông cậy và ỷ lại vào sức
của người, không tin tưởng và phát huy sức mạnh của mình (4).
Muốn
chiến thắng Cộng sản, chúng ta cần phải quyết tâm củng cố nội lực hơn
là dựa dẫm vào người Mỹ hay vào quốc tế. Chẳng ai thương chúng ta, dân
tộc chúng ta bằng chính chúng ta cả. Nếu chúng ta không nhất tâm tự cứu
lấy chính mình thì sẽ chẳng có ai ra tay cứu chúng ta cả. Khi chúng ta
thật sự có nội lực, các thế lực khác mới sẵn sàng hợp lực giúp chúng ta.
Aide-toi, le Ciel taidera! (5)
Nội
lực chỉ có khi chúng ta biết hợp lực đoàn kết và thống nhất ý chí, đường
lối. Chúng ta biểu lộ quyết tâm chiến thắng cộng sản, nhưng trong thực
tế lại không quyết tâm tạo đoàn kết là điều kiện không có không được để
có sức mạnh mà chiến thắng (6). Do đó, quyết tâm chiến thắng cộng sản
dường như chỉ là quyết tâm ngoài môi miệng chứ không phải thực tâm (7).
Chúng
ta trông cậy vào người Mỹ nhiều quá, chúng ta muốn nhờ Mỹ áp lực CSVN
trong khi chính chúng ta có thể tự áp lực CSVN một cách hữu hiệu mà
chúng ta không chịu làm. Chẳng hạn, chúng ta có thể hạn chế việc du lịch
về Việt Nam, hạn chế gửi tiền về Việt Nam, chỉ gửi tiền hay đi về Việt
Nam khi nào thật cần thiết. Vì hiện nay, chế độ CSVN tồn tại được một
phần khá lớn là nhờ hàng chục tỉ đôla mỗi năm mà Người Việt hải ngoại
gửi về hoặc đem về qua ngả du lịch, và phần nào do sự đầu tư làm ăn của
Người Việt hải ngoại tại Việt Nam.
B) Phải vận động quốc tế cách hợp lý
Chính
sách của các nước tự do có những điều bất lợi cho công cuộc đấu tranh
dân chủ tại Việt Nam, trong đó có những điều không thay đổi được và
những điều có thể thay đổi.
– Đối với những điều không thay đổi được, chúng ta có cố gắng vận động thay đổi cách mấy cũng vô ích.
–
Đối với những điều có thể thay đổi, chúng ta có thể tạo thay đổi, nếu
chúng ta biết vận động đúng cách. Vận động không đúng cách thì khó mà
thay đổi.
Do đó, cần nhận định và phân biệt hai loại trên, để đừng phí sức vào những việc không thể thay đổi.
a. Đừng phí sức vào những gì không thể thay đổi trong chính sách của Hoa Kỳ
Chính
phủ Mỹ hoạt động theo chính sách và đường lối của họ. Các quốc gia tự
do dân chủ khác cũng tương tự như vậy. Riêng đối với Mỹ, chính sách của
họ nhiều khi mang tính toàn cầu, vì một cách nào đó, Mỹ đang là quốc gia
có tầm vóc lãnh đạo thế giới… Nhiều khi vì lợi ích của một số quốc gia
nào đó, chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ chấp nhận hy sinh lợi ích của một
hay vài quốc gia nhược tiểu.
Nếu
chính sách hay đường lối của Hoa Kỳ có những điểm quan trọng bất lợi cho
đất nước mình, thì dù có vận động giỏi cách mấy, chúng ta cũng khó mà
thay đổi được những điều quan trọng ấy. Do đó, chúng ta đừng bao giờ phí
thì giờ và công sức cho những vận động bất khả thi hầu dồn nỗ lực vào
những vận động có tính khả thi.
Chẳng
hạn, nếu Mỹ chủ trương giao thương với Trung cộng hay với Việt Nam, sẵn
sàng ưu đãi hai nước này trong một số lãnh vực (WTO, Quy chế Tối Huệ
Quốc…)(8), điều này có thể khiến chế độ độc tài cộng sản phát triển và
tồn tại lâu dài, rất bất lợi cho dân tộc Việt Nam, thì dù vận động mạnh
mẽ đến đâu, chúng ta cũng không thể khiến Mỹ ngưng thực hiện chủ trương
đó (9).
Tạm dung thân trên đất Mỹ
này, chúng ta cần phải biết mình là ai. Mình không phải là sắc dân quan
trọng có sức mạnh tại đất Mỹ (do mình thiếu đoàn kết và không bảo được
nhau), nên chúng ta không dễ dàng áp lực được chính phủ Mỹ phải quan tâm
đến những nguyện vọng của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể yêu
cầu hay đề nghị chính phủ Mỹ thực hiện một số việc nào đó có lợi cho dân
tộc mình, hoặc cho cuộc đấu tranh của chúng ta.
b. Cần vận động hành lang (lobby) cách hữu hiệu
Cách
tranh đấu của người Việt tại Hoa Kỳ thường là lobby và biểu tình. So
với các sắc dân thiểu số khác, người Việt lobby rất nhiều nhưng rất rời
rạc, không thống nhất, và chỉ lobby ở trung ương chứ không lobby tại địa
phương, nên không hữu hiệu bao nhiêu. Muốn lobby hữu hiệu, các nhóm
lobby thay vì lobby riêng rẽ thì nên hợp lại thành một nhóm lớn đại diện
cho một đám rất đông (đương nhiên càng đông thì càng mạnh) và có chung
một tiếng nói duy nhất. Chẳng hạn, một thỉnh nguyện thư với 150.000
người ký tên vào đầu tháng 3/2012 vừa qua khiến chính phủ Hoa Kỳ quan
tâm nhiều gấp bội hơn là hàng trăm thỉnh nguyện thư khác nhau, mỗi thỉnh
nguyện thư chỉ có khoảng 1, 2 ngàn người ký tên.
Người
Việt tụ tập khá đông tại nhiều tiểu bang, nhiều thành phố. Với tư cách
cử tri có quyền bầu cử, tiếng nói của chúng ta rất có sức mạnh đối với
các vị dân cử tại thành phố hay tiểu bang của chúng ta. Vì thế chúng ta
nên lobby các vị dân cử ngay tại địa phương hay tại tiểu bang của mình.
Khi các vị dân cử họp tại trung ương để biểu quyết vấn đề gì, tiếng nói
và lá phiếu của họ có giá trị gấp nhiều lần tiếng nói của chúng ta (khi
chúng ta lobby tại trung ương).
c. Nên biểu tình đông đảo, đồng loạt và khắp nơi
Biểu
tình là một hình thức đấu tranh rất tốt nhưng nếu biểu tình một cách
rời rạc, lẻ tẻ, thì dù biểu tình rất thường xuyên, chúng ta cũng không
làm chính phủ Mỹ đặc biệt quan tâm, và cũng không làm cộng sản ở trong
nước phải sợ hãi nhiều. Nhưng nếu cùng bảo nhau biểu tình thật đông hàng
trăm ngàn hay hàng triệu người và đồng loạt biểu tình khắp nơi trong
cùng một thời điểm với cùng một mục đích thì sẽ tạo sự chú ý và gây
tiếng vang rất lớn.
d. Sức mạnh của lá phiếu
Điều làm cho Quốc hội và các quan chức Mỹ đặc biệt quan tâm là:
–
khả năng sử dụng lá phiếu của người Việt trong các cuộc bầu cử (vốn
chiếm một tỉ lệ khá cao trong các sắc dân), nếu biết bảo nhau dồn phiếu
cho một ứng cử viên nào đó thì có thể ảnh hưởng rất lớn đối với kết quả
cuộc bầu cử.
– và khả năng ủng hộ tài chánh trong các cuộc vận động bầu cử.
Các
vị dân cử rất biết ơn chúng ta nếu nhờ chúng ta dồn phiếu mà họ đắc cử,
hay nhờ chúng ta đã hy sinh tiền bạc để giúp đỡ họ trong việc vận động
tranh cử. Lúc đó, tiếng nói của chúng ta mới mạnh và mới được họ đặc
biệt quan tâm thực hiện.
Nhưng dường
như người Việt khá thờ ơ trong mặt trận này. Tỉ lệ người Việt đi bầu cử
tại Mỹ có thể nói là rất thấp và sự ủng hộ tài chánh của người Việt
trong các cuộc vận động bầu cử cũng rất ít. Do đó, sự quan tâm của Quốc
hội Mỹ, các vị dân cử Mỹ cũng như chính phủ Mỹ đối với những nguyện vọng
của người Việt không cao lắm.
e. Phối hợp nguyện vọng của ta với nhu cầu của chính quyền địa phương
Rút
kinh nghiệm từ vụ biểu tình chống Trần Trường tại Santa Ana (Nam
California), chúng ta thắng nhờ cái gì? Khi chúng ta biểu tình lên đến
hàng chục ngàn người hết ngày này sang ngày khác, chính phủ tại Santa
Ana phải tôn trọng quyền biểu tình ôn hòa của chúng ta nên vẫn phải cho
phép. Cứ kiên trì biểu tình đông đảo như thế, thành phố Santa Ana sẽ
phải chi phí rất nhiều tiền cho cảnh sát để giữ trật tự nên sẽ bị thiếu
hụt ngân sách. Đó là điều buộc chính quyền tại Santa Ana phải giải
quyết.
Thật ra, chính quyền Santa Ana
không hề quan tâm về việc Trần Trường treo cờ cộng sản hay hình Hồ Chí
Minh trong nhà của anh ta, cũng chẳng thèm quan tâm chuyện sang băng lậu
của anh ta (họ có thể biết những vẫn làm ngơ). Điều khiến họ phải quan
tâm là cứ phải chi tiêu ngoài dự tính một số tiền quá lớn vì dân chúng
biểu tình chống Trần Trường. Đây mới chính là điều buộc họ phải hành
động để giải quyết. Và họ quyết phải dẹp tiệm của Trần Trường vì bất lợi
về tài chánh cho họ. Vì thế họ bày cho mình tố cáo Trần Trường sang
băng lậu, đồng thời cung cấp chứng cứ phạm pháp của anh ta. Cuối cùng
Trần Trường phải dẹp bỏ tiệm bán băng của anh ta, thế là mục đích cuộc
biểu tình của chúng ta đã đạt được.
Nếu
chúng ta cứ biểu tình đông đảo và trường kỳ tương tự như vậy trước lãnh
sự quán của cộng sản khi nhà cầm quyền CSVN vi phạm nhân quyền, chính
quyền Mỹ sẽ phải chi phí rất lớn vào việc giữ an ninh cho những cuộc
biểu tình. Điều đó buộc họ phải giải quyết. Nếu chúng ta vận động để Hoa
Kỳ có luật buộc tòa lãnh sự cộng sản phải trả mọi chi phí cho việc giữ
an ninh cho các cuộc biểu tình (10), thì đó cũng là một cách buộc CSVN ở
trong nước phải chùn tay đàn áp ở trong nước. Đây là một phương cách áp
lực với CSVN mà chính chúng ta có thể chủ động làm được.
IV. Kết Luận
Trước những hiện tượng mà chúng ta đang thấy từ trước đến nay tại Việt Nam như:
– Công hàm của Phạm Văn Đồng công nhận Hoàng Sa-Trường Sa nằm trong phần lãnh hải của Trung cộng;
– Trung cộng đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 dưới thời VNCH, Cộng sản Bắc Việt im lặng đồng tình, không một lời phản đối;
– Năm 1999, CSVN đã nhượng hàng ngàn cây số vuông đất biên giới và hàng chục ngàn cây số vuông biển cho Trung Cộng
–
Trung cộng tuyên bố quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa và đường lưỡi bò
thuộc lãnh hải của họ mà CSVN không những không phản đối, mà còn bắt bớ,
giam cầm các nhà đấu tranh dân chủ dám công khai tuyên bố quần đảo này
là của Việt Nam (trường hợp Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Xuân Nghĩa… và dẹp
tan những cuộc biểu tình tại Hà Nội và Sàigòn vào các tháng 6,7,8/2011
phản đối Trung cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam)
–
Trung cộng ra lệnh cấm ngư dân Việt Nam đánh cá, bắt bớ, đòi tiền
chuộc, thậm chí bắn chết ngư dân đánh cá trong vùng biển Đông Nam Á,
vùng quần đảo Hoàng Sa, mà CSVN không dám phản đối.
– Phim ảnh Tàu, sách vở Tàu, hàng hóa Tàu tràn ngập Việt Nam, một phương cách xâm thực rất rõ ràng về văn hóa và kinh tế.
–
Trung Cộng được tự do đưa dân của họ qua Việt Nam không cần visa để
định cư, làm ăn, những khu dân cư gồm toàn người Tàu, và tạo những trung
tâm du lịch của Tàu dọc bờ biển Hạ Long, Sầm Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu,
v.v…
– Trung Cộng được đem hàng chục
ngàn công nhân ? có thể là quân nhân trá hình ? vào Tây Nguyên, một vị
trí chiến lược trọng yếu, với danh nghĩa khai thác bauxite. CSVN còn cho
Trung cộng thuê rừng đầu nguồn, khai thác khoáng sản, năng lượng như
than đá, quặng mỏ, điện năng tại Việt Nam. Đó là những nguy cơ rất lớn
chắc chắn sẽ gây tai hại vô cùng lớn lao và không thể sửa chữa cho nền
an ninh và môi trường sinh thái tại Việt Nam.
Qua
những hiện tượng trên, ta có thể chắc chắn rằng CSVN đã bí mật bán đứng
tổ quốc Việt Nam cho Trung Cộng chỉ để giữ vững quyền cai trị độc tài
và bóc lột của mình trên dân tộc Việt Nam. Trên danh nghĩa, Việt Nam vẫn
còn là của Việt Nam, nhưng trong thực tế, Việt Nam đã trở thành một chư
hầu, một thuộc địa của Trung cộng. Việt Nam đã bị bí mật mất vào tay
Trung Cộng, đó là sự thật phũ phàng mà CSVN cố gắng che dấu bằng đủ mọi
kịch bản khác nhau hầu lừa dối và xoa dịu sự bất mãn và phẫn nộ của
người dân có thể bùng lên lật đổ chế độ. Rất có thể việc CSVN đang đu
giây giữa Trung cộng và Hoa Kỳ cũng chỉ là một kịch bản để người Việt
Nam và thế giới tưởng rằng CSVN vẫn còn muốn dựa vào Hoa Kỳ để tạo thế
cân bằng đối trọng với Trung cộng.
Làm
chính trị thì phải suy ra được từ những hiện tượng bên ngoài để thấy
được bản chất hay sự thật sâu xa mà cộng sản đang cố tình che dấu. Sự
thật ấy là: Đảng CSVN không chỉ bán công nhân ra nước ngoài làm nô lệ
lao động, bán phụ nữ cho ngoại bang làm nô lệ tình dục, v.v… mà còn cả
gan bí mật bán toàn đất nước và dân tộc Việt Nam cho Trung Cộng. Việt
Nam thực tế đã trở thành thuộc địa của Trung cộng trong các lãnh vực
chính trị, văn hóa, kinh tế, chính sách, biển đảo, biên giới
Điều
mà CSVN rất sợ hiện nay chính là người dân trong nước biết được sự thật
phũ phàng ấy. Họ có thể nổi giận mà đứng lên lật đổ chế độ để cứu lấy
đất nước và tương lai của họ, của con cháu họ.
Bổn phận của chúng ta, người Việt Tị Nạn Cộng sản ở hải ngoại, là phải công bố sự thật ấy cho họ.
Houston, ngày 7/4/2012
Nguyễn Chính Kết
Nguyễn Chính Kết
______
Chú thích
(1) CSVN đang chia thành hai phe mâu thuẫn nhau, mặc dù cả hai phe đều chủ trương bảo vệ chế độ độc tài bằng bất cứ giá nào. Nhưng đường lối bảo vệ chế độ của hai phe khác hẳn nhau:
a)
Phe chủ trương ngả theo Trung cộng để bảo vệ chế độ: Phe này đặt nặng
ngai vàng, quyền lực và quyền lợi của mình với bất cứ giá nào, cho dù
phải chấp nhận mất nước cho Trung cộng hay dân tộc phải lầm than. Phe
này hiện rất mạnh vì đang nắm được công an và quân đội. Họ hy vọng rằng
sau khi Trung cộng chiếm Việt Nam, họ sẽ được Trung cộng cho nắm hết
quyền lực để cai trị đất nước.
b) Phe
chủ trương đi theo Mỹ để bảo vệ chế độ: Phe này vừa muốn bảo vệ chế độ
vừa không muốn bị mất nước vào tay Trung cộng. Vì một khi nước bị mất
vào tay Trung cộng thì họ chỉ như chó săn một khi không còn mồi để bắt
nữa nữa sẽ bị đem làm thịt. Vì thế họ chủ trương theo Mỹ vừa để nhờ Mỹ
giúp bảo vệ đất nước, vừa được Mỹ giúp nắm quyền lực cho dù đổi sang thể
chế dân chủ.
Hiện nay, hai phe này
đang tranh đấu với nhau. Phe thân Mỹ tuy yếu nhưng được sự ủng hộ của
nhân dân. Tuy nhiên, phe này bị phe thân Trung cộng tìm đủ mọi cách bách
hại, nên không dám tỏ thái độ rõ rệt là thân Mỹ. Phe thân Trung cộng
tuy nắm được quyền lực nhưng bị dân chúng phẫn nộ phản đối và muốn lật
đổ vì chủ trương bán nước hại dân, hèn với giặc ác với dân của họ.
(2)
“Bộ Chính Trị Đảng Cộng sản không sợ áp lực chính trị quốc tế bao nhiêu
vì họ có Trung Quốc ở sau lưng hậu thuẫn cho họ rồi. Họ đã nhượng đất
nhượng biển để mua chuộc sự hậu thuẫn này rồi” (Stephen B. Young).
(3)
“Hai sự việc mà đảng Cộng sản sợ nhứt là một ông Gorbachev sẽ lên làm
Tổng Bí thơ và thanh niên, sinh viên sẽ xuống đường như vụ Thiên An Môn ở
Bắc Kinh. Nổ lực của cấp lãnh đạo đảng là dùng đủ mọi khả năng và mọi
thủ đoạn để tránh hai sự việc đó xảy ra” (Stephen B. Young)
(4)
Nhận xét của một tác giả người Mỹ: Cộng đồng Việt Nam là cộng đồng dễ
hội nhập nhất, nhưng dễ tha hóa và vọng ngoại nhất. Người Việt có những
ưu điểm: con cái học hành giỏi giang so với những cộng đồng như Đài
Loan, Tàu, Nhật, Đại Hàn… làm ăn kinh tế được nhưng chỉ có tính cá thể
chứ không kết hợp làm ăn lớn được như người Tàu, người Nhật. Còn nói về
khả năng đoàn kết để cứu nước thì rất yếu.
(5)
Trong các cuộc cách mạng Hoa Lài tại Trung Đông, tất cả đều có Mỹ
nhúng tay vào. Nhưng dường như họ chỉ tiếp tay khi mà phe dân chủ tỏ ra
có đủ sức mạnh để lật đổ chế độ độc tài. Hiện nay, tại Việt Nam, phe dân
chủ trong nước còn yếu quá, do bị cộng sản đàn áp mạnh tay quá, không
phát triển nổi. Còn phe dân chủ ở hải ngoại thì tuy có nhiều tiềm lực và
lợi thế, nhưng không có thực lực vì thiếu đoàn kết, không thống nhất
được sức mạnh. Do đó, Hoa Kỳ chưa sẵn sàng ra tay giúp chúng ta.
(6)
CSVN rất sợ cộng đồng Việt Nam hải ngoại đoàn kết và thống nhất với
nhau, nên tìm đủ mọi cách để chia rẽ Cộng đồng người Việt hải ngoại
thành những mảnh vụn, ngày càng lắm phe nhiều nhóm, chẳng nhóm nào muốn
kết hợp với nhóm nào. Tình báo của CSVN và của Trung cộng (đương nhiên
dấu mặt, có thể mang mặt nạ chống cộng, được cài vào trong cộng đồng và
trong các tổ chức chống cộng) ở hải ngoại luôn luôn tìm cách “đâm bị
thóc, thọc bị gạo” để chia rẽ người Việt hải ngoại, và do tự ái cao,
tính ganh tị cũng như muốn mọi người phải theo quan điểm của mình, nhiều
người đã vô tình tiếp tay cho chính sách gây chia rẽ của tình báo CSVN,
tạo nên tình trạng chụp mũ nhau là cộng sản, làm mất uy tín của những
người và những tổ chức thật sự đấu tranh chống cộng, người quốc gia
chống phá lẫn nhau nhiều hơn chống cộng, nhất là đánh phá những người có
khả năng lãnh đạo và biết làm việc… Tình trạng chia rẽ này khiến cộng
đồng Việt Nam hải ngoại không có được sức mạnh cần thiết phải có.
(7)
“Từ 1975 đến hôm nay, cộng đồng người Việt hải ngoại chưa bao giờ hổ
trợ công cuộc tranh đấu cho dân tộc, cho tổ quốc một cách đúng mức. Cộng
động người Việt ở hải ngoại nên cố gắng tự mình chế giảm bớt sự chia
rẻ, sự ganh tị người này với người kia, đè nén bớt tham vọng cá nhân,
phải mình mới làm lãnh đạo. Cộng đồng nói chung chưa thiệt tình sẳn lòng
đóng góp đều đặn để yểm trợ những người tranh đấu ở trong nước và nhứt
là những người vì tranh đấu, biểu tình bị tù tội, gia đình lâm vào cảnh
khó khăn. CSVN đánh giá cộng đồng là bất lực, thiếu khả năng, làm việc
không có hiệu quả” (Stephen Y. Young).
(8)
Chính sách của Mỹ đối với Việt Nam hiện nay rất có lợi cho Mỹ. Mỹ với
Việt Nam đã ký những thương ước tập trận chung, mặc dù Việt Nam mua súng
đạn, mua tàu của Nga (toàn mua tàu rách), nếu có mua của Mỹ thì toàn
trả góp. Chính sách ngoại giao của Mỹ đối với Việt Nam: Mỹ đi ra đi vô
Việt Nam như đi chợ, có thể đi đâu bất cứ chỗ nào tại Việt Nam… Đâu có
nước nào cho Mỹ được như vậy? Mỹ biết rất rõ tính cách điếm đàng của
Việt Nam, nhưng không sao. Điều quan trọng là lợi ích chính trị và kinh
tế của Mỹ tại Đông Nam Á và Biển Đông.
Điều
Mỹ muốn ở Việt Nam là Việt Nam nghe lời Mỹ để tạo áp lực đối với Trung
cộng và tạo ảnh hưởng cho Mỹ tại Thái Bình Dương. Hiện nay, đầu tư của
Mỹ lớn nhất tại Việt Nam, hơn Nhật, Đại Hàn, Đài Loan…
(9)
Để dễ hiểu, xin đan cử một minh họa cụ thể: Khi chúng ta xin quá giang
xe một người bạn đang chạy về phía Nam, nếu chúng ta xin quá giang đi về
phía nam thì OK; nhưng nếu xin quá giang đi ngược về hướng Bắc thì
đương nhiên bị từ chối, trừ trường hợp chúng ta là cha mẹ của chủ xe.
(10) Vì chính phủ cộng sản tại Việt Nam của họ vi phạm nhân quyền khiến dân chúng phẫn nộ và biểu tình rầm rộ như vậy.
Nguyễn Chính Kết
No comments:
Post a Comment