Friday, February 1, 2013

Từ Nhật Bản hậu chiến đến Việt Nam hậu chiến [3]



II. Thắng mà thành lệ thuộc
Đảng Cộng Sản Việt Nam và đảng Cộng Sản Trung Quốc có một mối duyên nợ. Duyên nợ đó là chủ nghĩa Marx-Lenin, là Quốc Tế Vô Sản. Vì thế ông Hồ Chí Minh luôn nói đến công ơn của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Ông Hồ tôn Mao Trạch Đông là thầy, là người lãnh đạo không bao giờ sai lầm và coi hai đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam là hai anh em “có cảm tình khăng khít, yêu nhau như anh em một nhà”. Khi đón Lưu Thiếu Kỳ và Trần Nghị tới Hà Nội năm 1963, trong lời chào đón họ Lưu, họ Trần, ông Hồ đã đọc hai câu:

Mối tình thắm thiết Việt Hoa
Vừa là đồng chí vừa là anh em.
(Trích lại trong Ngô Nhân Dụng: Ngàn nghĩa vạn tình của Hồ Chí Minh/nguoi-viet.com/2/26/2010)
Không biết khi Hồ Chí Minh nói những điều này, ông có nhớ đến lịch sử đẫm máu trong những cuộc xâm lăng thôn tính của Hoa đối với Việt hay không? Nhưng đi vào thực tế của hơn nửa thế kỷ nhờ vả người anh Cộng Sản phương Bắc, đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải chịu ở vị thế lệ thuộc, thứ lệ thuộc vừa tự nguyện vừa bị ép buộc mà nửa thế kỷ đó có thể chia làm hai giai đoạn mà trong bài “Giải “Cộng” Nhi Thoát”, ông Hà Sĩ Phu đã dùng mấy chữ tượng hình là sợi dây thòng lọng đầu tiên và thòng lọng thứ hai. (danchimviet.info/8/10/2012)
1. Giai đoạn thứ nhất
Giai đoạn này kéo dài từ chiến dịch khai thông biên giới Việt Hoa năm 1950 đến năm 1975. Phải định cái mốc 1950, cái mốc Cộng Sản Tầu cứu Cộng Sản Việt, vì thời gian này chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh đang khốn đốn ở giai đoạn bảo tồn lực lượng (1947 – 49) trong vùng rừng núi Việt Bắc trước chiến thuật bao vây, chia cắt và tảo thanh của quân Pháp thì đảng Cộng Sản của Mao Trạch Đông thắng chính quyền Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch vào cuối năm 1949. Ông Hồ liền cầu cứu Mao Trạch Đông, và đảng Cộng Sản Trung quốc đã trợ giúp Cộng Sản Việt Nam mở chiến dịch khai thông biên giới Cao Bằng – Lạng Sơn (5-10/1950) với Trung Quốc. Sau khi biên giới Việt –Trung được khai thông, quân kháng chiến làm chủ quốc lộ số 4 chạy dọc biên giới Đông Bắc từ Móng Cái qua Lạng Sơn đến Cao Bằng, sự tiếp cận hai bên thuận lợi, Cộng Sản Trung Quốc đã trợ giúp Cộng Sản Việt về nhiều mặt như tổ chức lại quân đội, huấn luyện, cung cấp vũ khí và có những ông tướng Tàu làm cố vấn như Trần Canh, Vi Quốc Thanh, Lã Quý Ba… Vì thế, quân đội Cộng Sản Việt đã lớn mạnh, chuyển sang giai đoạn vận động chiến (1950 – 53), rồi tổng phản công và đã thắng trận Điện Biên Phủ (5/1954). Kết quả của chiến thắng Điện Biên Phủ là Hiệp Định đình chiến Geneve (7/54) và chính phủ Hồ Chí Minh đã được chia cho nửa nước từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc, còn chính quyền Quốc Gia Bảo Đại và Pháp được nửa nước từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam.  Từ đó, Cộng Sản Việt Nam đã đi vào sự lệ thuộc Cộng Sản Trung Quốc về chính sách mà điển hình là ứng dụng sự tàn bạo của Tàu vào chương trình cải cách ruộng đất ở nông thôn. Rồi với công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng công nhận đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc, Cộng Sản Việt Nam đã khởi đầu con đường bán nước.
2. Giai đoạn thứ nhì
Thời Hồ Chí Minh còn sống đến năm 1975, Cộng Sản Việt Nam còn có ông anh lớn là Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Sô, nên sự lệ thuộc được cân bằng với thuật đi giây giữa hai ông anh của Hồ Chí Minh. Đến khi ông Hồ chết (1969), cùng với sự xung đột Nga – Hoa (về chiến lược đấu tranh với tư bản) lên cao, Cộng Sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Lê Duẩn đã ngả hẳn vào Liên Sô chống lại Trung Quốc và bị Trung Quốc dưới thời Đặng Tiểu Bình dạy cho một bài học bằng trận chiến tàn phá 6 tỉnh biên giới: Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh vào tháng 2/1979. Sau trận chiến này, hai anh em Tàu, Việt coi nhau như kẻ thù không đội trời chung. Cộng Sản Việt chửi Cộng Sản Tàu là bọn thực hiện chủ nghĩa bá quyền Đại Hán, còn Cộng Sản Tàu chửi Cộng Sản Việt là bọn tiểu bá khu vực. Nhưng khi tổ quốc xã hội chủ nghĩa Liên Sô sụp đổ, đảng Cộng Sản Việt Nam lại quay đầu về phương Bắc tạ tội, xin thần phục và được Cộng Sản Trung Quốc tha thứ. Đầu tháng 9/1990, lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam được Cộng Sản Trung Quốc triệu qua Thành Đô (Tứ Xuyên) để nói chuyện hòa giải. Kết quả hội nghị Thành Đô (3,4/9/90) mà Cộng Sản Việt gọi là để nối lại quan hệ ngoại giao. Còn theo ông Trần Quang Cơ, cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trong “Hồi Ức và Suy Nghĩ” thì: “Không phải là bình thường hóa quan hệ mà là phụ thuộc hóa quan hệ” (tr.53).
Rồi ông Cơ nói thêm: “Và từ sau Đại Hội VII, tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc như cỗ máy đã được tra dầu đầy đủ, diễn biến trơn tru theo trình tự đã định… Ngày 5 đến 10/11/91, sau khi Hiệp Định về Campuchia được ký kết ở Pa-ri, TBT Đỗ Mười và Thủ Tướng Võ Văn Kiệt thăm chính thức CHND Trung Hoa để hoàn thành việc bình thường hóa mối quan hệ trục trặc lớn từ tháng 2/1979. Nhưng trong khi lãnh đạo ta ôm kỳ vọng cùng Trung Quốc “bảo vệ xã hội chủ nghĩa chống đế quốc” thì họ đã xác định quan hệ với ta là “thân nhi bất cận, sơ nhi bất viễn, tranh nhi bất đấu” (thân nhưng không gần, sơ nhưng không xa, đấu nhưng không đánh nhau). TQ nói thế song luôn luôn lấy thế nước lớn lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải ta, và hiểm độc nhất là không ngừng tác động vào nội bộ ta” (tr.56).
Trong Hồi Ức và Suy Nghĩ, ông Cơ nói đến ý đồ của Trung Quốc: “Gấp rút biến biển Nam Trung Hoa thành vùng biển độc chiếm của Trung Quốc, từ đó khống chế toàn bộ vùng Đông Nam Á… với mục tiêu khẳng định Việt Nam – Đông Dương là thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc, muốn tách Việt Nam khỏi Đông Nam Á và thế giới bên ngoài” (tr.59).
(Trần Quang Cơ: Hồi Ức và Suy Nghĩ. Truyền Thông, số đặc biệt 14&15, mùa Đông-mùa Xuân 2005)
Những điều ông Cơ nói, chúng tôi nghĩ Bộ Chính Trị và Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đã biết. Vì sau trận chiến 1979, đảng Cộng Sản Việt Nam đã công bố 2 tài liệu:
1. Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua.
2. Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Trong hai tập tài liệu này, Cộng Sản Việt Nam đã nói tất cả những tham vọng của Trung Quốc cùng sự lấn chiếm, chèn ép của Trung Quốc. Ngoài hai tập tài liệu trên, Cộng Sản Việt Nam còn phát hành tập sách: “Từ Mao Trạch Đông đến Đặng Tiểu Bình”, trong đó, Cộng Sản Việt Nam đã lên án Mao và Đặng là hai tên đại phản động cùng những tham vọng của hai tên này.
Nhưng sau sự sụp đổ của Liên Sô và những nước Cộng Sản Đông Âu, lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam phải cúi đầu hướng về phương Bắc và đã mượn cái Danh xã hội chủ nghĩa để giải quyết cái Thực của họ là thần phục Trung Quốc để duy trì quyền lực, còn Trung Quốc muốn sao cũng được như Nguyễn Văn Linh đã nói: “Dù bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa” (Trần Quang Cơ. Tr.45).
Với một lập trường như thế, Hội Nghị Thành Đô, là cái mốc cho thời kỳ lệ thuộc thứ nhì. Từ đây lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam bị Trung Quốc xoay vần, tự đưa  đất nước vào vòng lệ thuộc Tàu về tất cả mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa. Còn Trung Quốc thung dung thực hiện tham vọng như ông Trần Quang Cơ đã nói. Từ đó, tính chất lệ thuộc Trung Quốc đã biểu hiện hàng ngày trên nhiều mặt. Ở đây chỉ xin ghi lại ít điều:
1. Về chính trị:
a. Không bảo vệ dân:
Trong 10 năm trở lại đây, ngư dân Việt Nam đã phải chịu một đại nạn là không còn có thể làm ăn bình thường trên vùng biển của quê hương, vùng Hoàng Sa và Trường Sa. Vì họ bị hải quân và cảnh sát biển Trung Quốc xua đuổi, bắt, bắn giết và đập phá tàu đánh cá. Những người bị bắt đã được Trung Quốc gọi điện đến gia đình thân nhân đòi tiền phạt, với số tiền lên tới hàng trăm triệu đồng, vì họ coi việc đánh bắt hải sản quanh vùng Hoàng Sa và Trường Sa là “Xâm phạm lãnh hải Trung Quốc. Số người bị chết, bị thương và bị bắt cho đến nay đã lên tới hàng trăm. Thời gian cũng đã dài, nhưng Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không có biện pháp gì để bảo vệ ngư dân. Năm 2008, Cô Phạm Thanh Nghiên đã liều lĩnh vào tận xã Hoằng Trường và Hòa Lộc (Thanh Hóa), tìm đến nhà những ngư dân bị hải quân Trung Quốc bắn và bắt ngày 8/1/2005, để tìm hiểu sự việc mà chính quyền Việt Nam luôn dấu kín. Chuyến đi này cô Nghiên đã ghi lại được nhiều điều của những gia đình nạn nhân trong bài “Uất Ức Biển Ta Ơi”.
(Người Buôn Gió – Đến thăm Phạm Thanh Nghiên/danluan.org/11/2/2012)
Nhưng ở đây chúng tôi chỉ trích lại một đoạn nói về thái độ của viên chức Bộ Ngoại Giao Việt Nam đối với ngư dân và Trung Quốc:
“Khoảng hai, ba hôm sau khi ngư dân Thanh Hóa bị tàu chiến Trung Quốc tấn công thì người của Bộ Ngoại Giao Việt Nam sang. Họ có hai người, không có nhà báo đi theo để đưa tin. Họ xin chính quyền Trung Quốc gặp các ngư dân Việt Nam đang bị giam giữ và khuyên: “Các anh cố gắng ở lại cải tạo cho tốt, đừng cãi người ta. Chúng tôi sẽ cố gắng đưa các anh về trước tết”. Những ngư dân này không hiểu họ phạm tội gì, tại sao lại “cố gắng cải tạo cho tốt?”
Từ 2005 đến nay bao nhiêu ngư dân đã chết, đã bị bắt và bị tàu Trung Quốc húc chìm, nhưng vì chính quyền Việt Nam sợ Trung Quốc nên những ngư dân bị nạn đã trở thành người xa lạ và có tội với Trung Quốc.
b. Dân Tầu tự do vào Việt Nam:
Trong khoảng 10 năm qua, với 16 chữ vàng và 4 tốt, người Hoa đã ào ạt vào Việt Nam mà hiện tượng dễ thấy nhất là họ đã vào  theo những dự án xây dựng.
Theo báo Tuổi Trẻ (Hà Nội), trong buổi tọa đàm về Kích Cầu Trong Xây Dựng ngày 27/3/2009 của Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam, thực trạng lớn nhất được đưa ra buổi tọa đàm là rất nhiều dự án lớn đã được triển khai, nhưng hàng hóa Việt Nam không thể tiêu thụ được vì trúng thầu là các nhà thầu ngoại quốc, chủ yếu là Trung Quốc. Ông Trần Ngọc Hùng, Chủ Tịch Tổng Hội Xây Dựng, cho biết: Các nhà thầu Trung Quốc đang thắng thầu rất nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất… Đáng quan tâm là các nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất được.
Ông Trần Văn Huynh cho biết: Đặc trưng của nhà thầu Trung Quốc là họ không thuê nhân công Việt Nam mà đem người sang, có thể bằng cả đường du lịch rồi ở lại. Một số loại vật liệu Trung Quốc được đem qua Thái Lan rồi vòng vào Việt Nam. Máy móc thiết bị không nhập riêng được thì họ lắp sẵn rồi đem cả sang. Như ở một nhà máy xi măng do nhà thầu Trung Quốc làm, đến cái bệ xổm toa- lét họ cũng không dùng hàng Việt Nam mà mua hàng Trung Quốc.
Một hiện tượng mới đang xảy ra ở Việt Nam là mỗi dự án xây dựng đi liền với một làng Trung Quốc, mà những nhà thầu Trung Quốc đã giành được đến 90% các dự án trọng điểm trên toàn quốc thì trong vài năm Việt Nam sẽ có thêm bao nhiêu làng Trung Quốc.
Hiện tượng này ông Ngô Nhân Dụng đã báo động là “Hiện tượng trồng người đang diễn ra. Hiện nay ở Việt Nam đã có những làng của công nhân người Hoa làm trong các dự án do người Trung Quốc đứng thầu. Đã xẩy ra nhiều vụ xung đột với dân bản xứ người Việt. Tháng Sáu năm ngoái, 200 công nhân người Trung Quốc đã tấn công dân chúng một làng ở Thanh Hóa, sau một vụ ẩu đả giữa một công nhân  và người chồng của một bà chủ quán.
Cuối năm ngoái, nhật báo New York Times đã viết cả một bài về việc “xuất cảng lao động” của Trung Quốc tại Việt Nam. Họ lấy thí dụ công trường xây cất nhà máy nhiệt điện chạy bằng than ở Trung Sơn, Hải Phòng. Trong bốn năm xây dựng, chỉ có mấy trăm người Việt Nam kiếm được việc làm ở đó, còn hầu hết là người Hoa, có lúc lên đến 1,500 công nhân Tầu. Họ sống trong những cư xá riêng, với các cơ sở cung cấp dịch vụ cho họ cũng do người Trung Hoa trông coi, bốn chung quanh kín cổng cao tường. Có cả một “nhà tắm hơi đấm bóp” mà người ta biết ở trong đó có những “dịch vụ đen tối” khác, treo bảng chiêu khách bằng chữ Hán! Phóng viên Thời Báo New York viết: “Cả một thế giới Trung Hoa mọc lên”, (an entire Chinese world has sprung up). Có cả một con đường treo bảng tên Quảng Tây Lộ! Tiệm ăn Tầu mang tên Quảng Tây treo bảng viết chữ Hán, quảng cáo, thực đơn bằng chữ Hán. Một nhóm công nhân người Hoa ngồi nhậu say sưa trong quán này, một anh họ Lâm nói với phóng viên Edward Wong của báo Times: “Tôi được gửi qua đây làm việc, để tròn bổn phận đối với tổ quốc” (I was sent here, and I am fulfilling my patriotic duty). Tất nhiên, anh ta nói đến tổ quốc Trung Hoa của anh. Đó là mối họa di dân có thực”.
(Trồng cây hay trồng người. nguoiviet.com/2/24/2012)
Còn ông Hà Sĩ Phu trong bài “Từ vụ Bauxite nghĩ về vận nước”, đã nhìn sát và thê thảm hơn: “Khả năng bị đồng hóa toàn diện nặng nề hơn bao giời hết. Đã có sự nhập cư ồ ạt không thể kiểm soát của những người Tàu không rõ lý lịch. Thông tin cho biết nhiều kẻ nhập cư lậu thuộc loại chất lượng xấu nhưng vừa chiếm chỗ lao động, vừa lấy được 2-3 người vợ Việt Nam để sinh đẻ cho nhiều! Chẳng những bị Hán hóa mà còn lưu manh hóa và mông muội hóa để thành những tộc dân mọi rợ. Dân tộc bị thoái hóa thì sẽ mất nước vĩnh viển, trở thành quận huyện của người ta, uổng công tổ tiên nghìn đời xây đắp”.
(doi-thoai.com/7/27/2009)
Về chuyện Tàu lấy vợ Việt, ngày chúng tôi còn nhỏ ở tỉnh Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay) đã biết là người Tàu nào cũng nằm lòng câu: Lộ ố Nàm phồ, chỉ ố Nàm tì (Lấy vợ An Nam, ở đất An Nam). Và đặc biệt là con gái Tầu, ở bất cứ tầng lớp nào, ít khi lấy chồng Việt. Như thế chủ trương thôn tính và đồng hóa dân Việt đã có từ ngàn đời trước, và nếp nghĩ ấy đã nhập vào máu của dân Tàu. Bao nhiêu thế kỷ trước ông cha ta đã thoát được thảm kịch bị Tàu đồng hóa. Chẳng lẽ tới thế kỷ 21, Cộng Sản Việt Nam vì cái lợi một ngày đã giúp đế quốc Tàu thực hiện giấc mộng ngàn năm của nòi Hán. Vì lợi một ngày di hại ngàn đời! Vì quyền một ngày tận diệt dân tộc! Vận mệnh dân tộc Việt Nam đã đến như thế sao?
c. Phá di tích và cấm nói đến trận chiến tháng 2/1979:
Trong diễn văn của Giang Trạch Dân ở hội nghị Thành Đô có một câu: “Quan hệ hai nước từ nay hãy gác lại quá khứ, hướng đến tương lai”. Và có lẽ từ câu đó mà những người lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã cấm dân Việt không được nói bất cứ điều gì đụng đến Trung Quốc.
Trước hết về trận chiến năm 1979:
Ông Gia Định trong bài “Bị Trung Quốc phá, giết sạch vẫn “Đời đời nhớ ơn các liệt sĩ Trung Quốc”ghi lại một số sự việc ở vùng biên giới, nơi Trung Quốc đã dạy Việt Nam một bài học sau 30 năm.  Xin trích một số đoạn:
- Tuy đã có hàng chục ngàn người ngã xuống trong cuộc chiến chống ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ, song chính quyền CSVN không có bất kỳ hành động nào tưởng nhớ họ. Thậm chí, ngày 10 tháng 2, tại cuộc họp định kỳ với Tổng Biên Tập các cơ quan truyền thông, đại diện Ban Văn Hóa Tư Tưởng của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN đã lập lại lệnh cấm hệ thống truyền thông đề cập đến cuộc chiến tranh xâm lược mà Trung Quốc thực hiện ngày 17 tháng 2 năm 1979 …
- Sài Gòn Tiếp Thị, tờ báo duy nhất có bài viết về sự kiện kể trên (Biên Giới Tháng Hai) đã bị “Phê bình nghiêm khắc”. Sài Gòn Tiếp Thị không giải thích, nhưng người ta hiểu vì sao tờ báo này lột bỏ “Biên Giới Tháng Hai” ra khỏi website của họ …
- Trên một blog có tên Osin, tác giả “Biên Giới Tháng Hai”, vừa tường thuật thêm về không khí ở khu vực biên giới thuộc lãnh thổ Việt Nam, vào thời điểm cuộc xâm lược tròn 30 năm:
“Chỉ có một vài bó hoa và những nén hương của lữ khách, các nghĩa trang biên giới quạnh hiu suốt ngày 17 tháng 2… Không có một cuộc viếng thăm, không một vòng hoa và chẳng có khói nhang nào.
Tối 15 tháng 2, ngồi nói chuyện với một người đã từng lái xe tải thương ở Hà Giang trong những năm từ sau 1979, những chuyến xe có thương binh ngồi chung với các liệt sĩ từ biên giới trở về. Xe anh bao giờ cũng có những thẻ hương và một thân cây chuối chặt ngang. Nhiều khi dừng lại, mới hay trên chuyến xe, anh là người sống sót cuối cùng. Nhiều thương binh đã không kịp về tới bệnh xá dã chiến. Anh lấy hương thắp lên, cắm vào khúc chuối rồi ngủ thiếp đi bên đồng đội đã ngủ. Những năm quyết lấy lại điểm cao 1509, có những chuyến xe, tối chở bộ đội lên, sáng trở về đầy xác. Những người lính ấy trong chiến tranh đã từng tranh giành những cao điểm với giặc. Giờ đây lặng lẽ bên nhau không giành giật điều gì. Những ngươi lính ấy không cần lễ nghi và cũng không biết rằng lại bị quên nhanh như thế. Nhưng, những người còn sống thì cần …
- Cùng lúc này, nhiều blogger đã chuyền cho nhau những hình ảnh được giới thiệu trên site có tên “Thông tin” thuộc hệ thống brinster.net, chụp nghĩa trang liệt sĩ Long Châu, nằm trên lãnh thổ Trung Quốc, giáp với tỉnh Cao Bằng (Việt Nam). Người ta cảm thấy rất khó hiểu khi trên bia giới thiệu về nghĩa trang, ngoài Hán tự, còn có một dòng chữ Việt: “Nghĩa trang liệt sĩ Trung Việt”. Tuy nhiên đáng chú ý và gây phẫn nộ nhiều nhất là vòng hoa viếng nghĩa trang liệt sĩ Long Châu (nơi chôn cất những người lính Trung Quốc đền tội khi xâm lược Việt Nam) của Đảng Ủy, UBND, Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Đề Thám, lại có dòng chữ: “Đời đời nhớ ơn các liệt sĩ Trung Quốc”. Nhật báo Người Việt thử tìm hiểu và hết sức bất ngờ khi biết Đề Thám là một xã ngoại vi thuộc thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Đây là nơi từng bị lính Trung Quốc phá thành bình địa, kể cả bệnh viện, trường học, đền, chùa… Đây cũng là nơi có nhiều thường dân thiệt mạng nhất (chết vì pháo kích, bị chặt đầu, mổ bụng, xác vứt xuống giếng.
(Gia Định: “Bị Trung Quốc phá, giết sạch vẫn “Đời đời nhớ ơn các liệt sĩ TrungQuốc”.nguoiviet.com/2/19/2009)
Ông Huy Đức (Osin là Huy Đức) than cho những người lính hy sinh trong trận chiến 1979 là đã bị quên quá nhanh và bị cấm không được nhắc đến. Nhưng đó là những người lính đã nằm xuống từ 30 năm trước. Còn bây giờ, năm 2012, ông Hạ Đình Nguyên trong bài: “Phương Uyên, Tôi có thể làm gì cho em?” lại lo cho những người lính đang giữ đảo, giữ bờ cõi là mai sau không biết những người lính ấy sẽ được đối sử ra sao:
“Chúng ta chỉ có đau xót mà không làm gì được trước hằng vạn thanh niên nghiện ngập ma túy, hằng vạn thiếu nữ liều mình, nhắm mắt đưa chân, lao đi kiếm chồng bất kể gian nguy, trước tình trạng đạo đức suy đồi, giết người cướp của, giựt dọc vì đói ăn khát uống, bắt trộm chó để bị đánh tới chết và bị thiêu… Và cảm thương, quý mến về những thanh niên đang cầm súng giữ đảo, giữ bờ cõi với lòng trung thành, chấp nhận hy sinh, mà không biết chắc mai sau có được tổ quốc ghi ơn hay bị phản bội, bị quên lãng, bị khuyên “không nhắc tới”, như hằng vạn thanh niên đã nằm xuống ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc của Tổ Quốc”.
(Hạ Đình Nguyên: Phương Uyên: Tôi có thể làm gì cho em/ danluan.org/11/7/2012)
Lệnh truyền “Hãy gác lại quá khứ, hướng tới tương lai” không dừng lại ở việc quên trận chiến 1972 mà còn được lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam đẩy đi xa hơn là tất cả những gì về lịch sử chống Tàu đều phải đục bỏ mà ông Gia Định đã cho biết là “Xưa giờ, có nhiều bằng chứng cho thấy lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam rất sợ Trung Quốc. Đầu thập niên 1990, sau khi nhà cầm quyền hai nước tuyên bố nối lại quan hệ ngoại giao và cùng cam kết sẽ tuân thủ phương châm: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, đảng và nhà nước Việt Nam đã ra lệnh cấm diễn, cấm chiếu các vở kịch, bộ phim có nội dung chống xâm lược phương Bắc như: “Tiếng trống Mê Linh”, “Thái Hậu Dương Vân Nga”… Cũng trong giai đoạn này, toàn bộ sách giáo khoa với các bài giảng, bài học có nội dung chống xâm lược phương Bắc của cha ông người Việt bị thu hồi, rồi bị đục bỏ”.
(Gia Định: Hình như ông cố nội các “đồng chí” ấy là người Tàu/nguoiviet.com/12/19/2007)
4. Cấm dân bày tỏ thái độ trước sự xâm lấn của Trung Quốc
Từ sau Hội Nghị Thành Đô (9/1990) đến nay, quân đội nhân dân Việt Nam sống yên bình trên mấy đảo còn giữ được ở Trường Sa. Nhưng Biển Đông không bao giờ yên tiếng súng của Hải quân và cảnh sát biển Trung Quốc. Có điều tiếng súng ấy không nhằm vào quân Việt Nam mà nhằm vào ngư dân Việt đánh cá ở những ngư trường quanh vùng Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc dùng tiếng súng ấy để bảo rằng ngư dân Việt Nam đã xâm phạm lãnh hải của Trung quốc. Và từ đó đến nay Trung Quốc đã làm nhiều việc để dần biến điều trên thành sự thật. Có  thể kể:
- Đầu tháng 11/2007, Trung Quốc loan tin thành lập huyện Tam Sa bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
- Qui định thời gian cấm đánh cá ở khu vực Biển Đông từ giữa tháng 5 đến tháng 7. Khi lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông 2 tháng rưỡi chấm dứt ngày 1/8/2012, hàng chục ngàn tàu đánh cá Trung Quốc từ Quảng Đông và Hải Nam đã ồ ạt vào Biển Đông, xâm phạm các khu vực chủ quyền biển, đảo và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
- Gia tăng bắn, bắt ngư dân Việt và dùng tàu chiến đâm đắm tàu của ngư dân.
- Qui định đường lưỡi bò 9 đoạn, bao gồm 80% Biển Đông thuộc chủ quyền Trung Quốc.
- Sau khi Việt Nam ra luật biển (21/6/2012) xác định các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, Trung Quốc chính thức thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa trên đảo Phú Lâm, Trung Quốc gọi là đảo Vĩnh Hưng thuộc Hoàng Sa, rồi thành lập Bộ Chỉ Huy Quân Sự cho thành phố Tam Sa.
- Giữa tháng 12/2012, Trung Quốc in hình lưỡi bò lên hộ chiếu.
- Cuối tháng 11/2012, tàu Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh lần thứ nhì.
- Ngày 27/11/2012, chính quyền Hải Nam đã thông qua “Điều lệ quản lý trị an biên phòng bờ biển Hải Nam, cấm tàu thuyền đi vào vùng biển thuộc chủ quyền Trung Quốc”.
- Theo Nhân Dân Nhật Báo và Tân Hoa Xã, bắt đầu ngày 1/1/2013, Cảnh Sát Biên Phòng Hải Nam sẽ kiểm soát và trục xuất bất cứ tàu thuyền nào xâm nhập trái phép các vùng biển do Hải Nam quản lý.
- Ngô sĩ Tồn, Giám Đốc Sở Ngoại Vụ Hải Nam, khi trả lời báo New York Times (1/12/2012) đã nói rằng qui định mới chủ yếu áp dụng cho tàu thuyền đánh cá bất hợp pháp của Việt Nam.
Thực hiện lệnh cấm, chỉ đối với Việt Nam, Trung Quốc đã sử dụng chiến lược cô lập và tách Việt Nam khỏi các nước Đông Nam Á và thế giới như ông Trần Quang Cơ đã báo động trong “Hồi Ức và Suy Nghĩ”. Nhưng nghĩ lại chúng ta thấy chính đảng Cộng Sản và chính quyền Việt Nam đã tự trói mình (hay đóng kịch) theo chính sách ôm giữ 16 chữ vàng và 4 tốt để Trung Quốc từng bước thâu tóm Biển Đông và làm chủ Hoàng Sa và Trường Sa. Và việc này chúng ta có thể thấy rõ qua những biểu hiện sau đây:
a. Với chính quyền:
Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, qua người phát ngôn Bộ Ngoại Giao chỉ một lời phản đối chiếu lệ, rồi xác định “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền và quyền hợp pháp của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam”. Điệp khúc này nhắc lại mãi, nhưng chỉ hát mà không làm gì, trong khi Trung Quốc tiến tới, nói là làm. Một sự kiện đặc biệt hơn là trước những sự việc như thế, nhưng khi lãnh đạo đảng, chính quyền hai nước Việt, Trung  gặp nhau thì hai bên bao giờ cũng nói lên tình hữu nghị tốt đẹp, giữ gìn tài sản hữu nghị muôn đời cho con cháu… Đừng để Biển Đông (dù mất) làm hại tình hữu nghị!
b. Với dân:
Sau nhiều năm phải im lặng dưới chế độ độc tài toàn trị, việc Trung Quốc ngang ngược xâm lấn biển đảo, và trước thái độ khiếp nhược của đảng Cộng Sản và chính quyền đã làm dấy lên trong mọi tầng lớp nhân dân một phong trào chống Trung Quốc. Do đó, từ 2007 đến nay hai thành phố Hà Nội và Sài Gòn, trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, sinh viên và dân chúng đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình lên án sự xâm lăng của Trung Quốc:
- Năm 2007, biểu tình chống việc Trung Quốc công bố thành lập Tam Sa.
- Năm 2008, biểu tình phản đối cuộc rước đuốc Olympic của Bắc Kinh ở Sài Gòn với những người đi đầu như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải…
- Năm 2011, từ ngày 5/6 biểu tình đã được tổ chức ở Hà Nội và Sài Gòn. Đặc biệt lần biểu tình này có nhiều vị trí thức đi đầu. Ở Hà Nội với các ông: Học giả Nguyễn Huệ Chi, TS. Nguyễn Quang A, nhà văn Nguyên Ngọc, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên…
Còn ở Sài Gòn với các ông: Giáo sư Tương Lai, luật gia Lê Hiếu Đằng, Bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, ông Hạ Đình Nguyên…
Theo chương trình thì biểu tình lần này sẽ được kéo dài, nhưng Sài Gòn chỉ tổ chức được hai lần, còn Hà Nội tổ chức được 10 lần.
- Năm 2012, trước việc Trung Quốc lập thành phố huyện Tam Sa, thay hộ chiếu mới với hình lưỡi bò và cắt cáp tàu địa chấn Bình Minh 2, biểu tình chống Trung Quốc đã được tổ chức ở cả hai thành phố Hà Nội và Sài Gòn (9/12/12).
c. Chính quyền với dân:
Trước thái độ im lặng của chính quyền đối với sự gia tăng xâm lấn Biển Đông của Trung Quốc, người dân đã đặt câu hỏi là chính quyền nhu nhược, sợ Trung Quốc hay đã thỏa thuận thông đồng tiếp tay cho việc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.
Ông Hà Sĩ Phu trong bài: “Giải “Cộng” Nhi Thoát” đã viết: “Nguy cơ mất nước là hoàn toàn có thật. Đến lúc này nhân dân buộc phải hỏi: Đảng và nhà nước có thực sự muốn chống xâm lược không? (Cả đến việc thông qua Luật Biển, làm nức lòng nhiều người nhưng tiến hành song song với những động tác ve vãn kẻ xâm lược và cấm dân biểu tình thì có đáng tin không hay chỉ là “đánh trận giả” để đánh lừa dân chúng, giúp kẻ địch tiến thêm một bước nguy hiểm?)
(danchimviet.info/8/10/2012)
- Chính quyền đối với Trung Quốc thì như thế, còn đối với dân thì tất cả các cuộc biểu tình đều bị đàn áp, giải tán bằng những biện pháp bạo lực trong một thời gian ngắn.
Mỗi lần biểu tình, đài, báo chí lề phải đều loan tin là một nhóm tụ tập bất hợp pháp làm mất trật tự, an ninh thành phố và đã bị giải tán. Riêng thành phố Hà Nội còn nói thêm là sự tụ tập đã làm xấu bộ mặt thành phố. Và trong những lần đàn áp ấy, nhiều người bị đánh đập, bị công an nhân dân quăng lên xe như quăng súc vật. Trong đó có ông Nguyễn Chí Đức bị khiêng quăng lên xe và bị tên công an trên xe đạp vào mặt nhiều lần và hình ảnh cú đạp này đã được truyền đi trên khắp thế giới.
- Trong thời gian của 10 cuộc biểu tình liên tiếp vào mỗi chủ nhật ở Hà Nội đã xuất hiện nhiều vị anh thư như Huỳnh Thục Vy (với những bài lý luận sâu sắc về dân chủ, tự do, về chế độ độc tài toàn trị), Trịnh Kim Tiến (với giải cờ trên áo dài trắng đi hiên ngang và bức ảnh này cũng đã được truyền đi trên khắp thế giới), Bùi Thị Minh Hằng, một mình đội nón có mấy chữ HS-TS-VN, đã bị công an xé nón, rồi sau đó bị bắt đưa vào trại giáo dục Thanh Hà với bản án 2 năm tù cải tạo. Trong trại tù, Minh Hằng phản kháng quyết liệt, còn bên ngoài, thế giới lên án chính quyền Việt Nam trước một bản án man rợ chụp lên đầu người yêu nước. Vì thế chỉ sau 5 tháng, chính quyền đã phải trả tự do cho chị)…
- Thêm một điều đáng ghi là là những người trong Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do biểu tình trước nhà hát thành phố Sài Gòn (19/1/2008) chống Trung Quốc trong cuộc rước đuốc Olympic của Trung Quốc qua Việt Nam đã lần lượt phải vào tù là các anh Điếu Cày Nguyễn Văn Hải (bị bắt 5/2008), Anh Ba Sài Gòn Phan Thanh Hải (bị bắt 10/2010) và chị Tạ Phong Tần (bị bắt 9/2011). Riêng anh Điếu Cày bị kết án 30 tháng tù giam về tội “trốn thuế”, nhưng khi mãn hạn tù, anh bị giữ lại với tội danh khác là tuyên truyền chống nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam.
Trong phiên tòa sơ thẩm (24/9/2012), anh Điếu Cày bị kết án 12 năm tù giam, 5 năm quản chế, chị Tạ Phong Tần 10 năm tù giam, 3 năm quản chế, Anh Ba Sài Gòn 4 năm tù giam, 3 năm quản chế. Tới phiên tòa phúc thẩm anh Điếu Cày và chị Tạ Phong Tần bị giữ y án, còn Anh Ba Sài Gòn được giảm 1 năm còn 3 năm. Cả 3 người cùng bị kết án về tội “tuyên truyền chống nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”, nhưng mọi người đều biết đó là tội yêu nước chống Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa.
Theo nhà văn Nguyễn Viện trong bài “5 năm nhìn lại các cuộc biểu tình” thì phong trào biểu tình đã tạo thành hai việc:
Thứ nhất là sự bùng nổ văn thơ chống Trung Quốc chủ đề Hoàng Sa, Trường Sa với những ngôn ngữ chưa từng có trong văn học Việt Nam, đa phần được phổ biến trên hai trang mạng tienve.org và damau.org.
Thứ nhì là sự hình thành 2 nhóm No-U Sài Gòn và Hà Nội. Họ có tinh thần tương trợ, đoàn kết và yêu thương, thể hiện một thái độ chính trị dứt khoát, mạnh mẽ.
Ông Viện cho biết thêm là ở Sài Gòn, ngoài “Nhật Ký Yêu Nước” kêu gọi biểu tình ngày 9/12 còn có 5 ông: Huỳnh Tấn Mẫm, Tương Lai, Hồ Ngọc Nhuận, Lê Hiếu Đằng và Lê Công Giàu đã ký tên ngày 7/12/2012 (thay mặt cho 42 nhân sĩ trí thức đã từng kiến nghị tổ chức biểu tình chống Trung Quốc vào tháng 7/2012) trên một thông báo kêu gọi mit ting tại Nhà Hát Thành Phố cũng vào ngày 9/12.
Theo nhận định của ông Nguyễn Viện thì đây là một sự kiện đặc biệt, vì là lần đầu tiên biểu tình có danh xưng người tổ chức chính thức, một bước tiến bộ lớn trong sinh hoạt chính trị của người dân.
(bbc.co.uk/Vietnamese/2012/12/12)
5. Với dân vào tù, với giặc cúi đầu
Cho đến nay việc Trung Quốc chiếm đất biên giới, chiếm rừng đầu nguồn, chiếm cao nguyên, chiếm biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa, lập làng trên khắp Việt Nam đã là việc thật, và người dân cùng báo lề dân đã gọi Tàu là giặc. Nhưng lãnh đạo đảng Cộng Sản và Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa lại biểu hiện một thái độ mà người dân không thể hiểu đó là yên lặng trước những việc làm của Tàu trên đất nước, và trên bề mặt ngoại giao giữa Việt, Trung, lại hiện ra những cảnh tượng đau lòng của những người lãnh đạo Việt Nam trước những người lãnh đạo Trung Quốc. Xin kể một số điều:
a. Cả ba ông Nguyễn Phú Trọng gặp Hồ Cẩm Đào ngày 11/10/2012 ở Bắc Kinh, Trương Tấn Sang gặp Hồ Cẩm Đào tại hội nghị APEC ở Vladivostoc ngày 7/9/2012, và Nguyễn Tấn Dũng gặp Tập Cận Bình tại Nam Ninh ngày 20/9/2012, đều nói những lời tốt đẹp: Không ngừng tăng cường sự tin cậy chính trị, làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam –Trung Quốc… Và hai ông Hồ và Tập cũng nói những lời tương tự, nhưng trong khi đó không biết bao nhiêu việc Trung Quốc đang tiến tới ở Biển Đông. Như thế là mấy ông lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã đóng kịch với những lời thắm tình hữu nghị để mấy ông lãnh đạo Trung Quốc thực hiện sự nghiệp xâm chiếm Biển Đông và Việt Nam.
Và trong lần thăm đó, ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng có một tấm ảnh đặc biệt là khi bắt tay Hồ Cẩm Đào đã bắt bằng hai tay, một tay nắm bàn tay Hồ, còn tay kia nắm cổ tay ông ta.  Mặt ông Trọng nghệt ra trong cái cười đờ đẫn. Cảm động đến thế kia sao? Tội nghiệp một ông tiến sĩ triết học mà không cảm được hai câu thơ của Nguyễn Du:
Việc đời đáy mắt không hơn
Phù vân một áng theo hờn gió thu.
b. Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh trong bài: “Sao phải hạ mình đến thế” cho biết: Trong những chuyến viếng thăm nhiều tỉnh, thành Trung Quốc của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, khi thì Thủ Tướng hội đàm với Chủ Tịch tỉnh, khi thì làm việc với Phó bí thư… Nếu tôi không nhầm thì mới đây, khi thăm Triết Giang, Thủ Tướng được Phó Chủ Tịch Chính Hiệp tiếp (như Phó Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc bên ta). Thật không bình thường! Dù có kém cỏi đi chăng nữa thì ông Nguyễn Tấn Dũng cũng đường đường là Thủ Tướng của một nước. Tại sao lại tự hạ mình xuống ngang hàng với một tỉnh của người ta?
c. Người Quan Sát trong bài “Một cuộc thuyết giảng cho trí thức – Vụ cắt cáp tàu Bình Minh 2: Yêu cho đòn cho vọt”, cho thấy sự thê thảm về lập trường dân tộc và tinh thần nô lệ Tàu của một ông quan Bộ Ngoại Giao. Xin trích mấy đoạn:
- Chiều thứ hai 14/11/2012, ông Nguyễn Duy Chiến, Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Biên Giới Quốc Gia của Bộ Ngoại Giao Việt Nam được mời đến một trường đại học lớn ở Hà Nội báo cáo về tình hình biên giới.
- Các thầy cô đến dự đông đủ … giảng đường trên 400 chỗ ngồi hầu như không còn chỗ trống.
- Những người đến dự chờ đợi ông Phó Chủ Nhiệm cung cấp những thông tin thời sự về tình hình biên giới, để cập nhật thông tin và bổ sung kiến thức vào việc nghiên cứu và giảng dạy. Ông giảng rất kỹ thế nào là đường cơ bản, thế nào là lãnh hải, thế nào là vùng đặc quyền kinh tế… Ông còn làm “công tác tư tưởng” cho các giáo sư, đảng viên và đoàn viên thanh niên Cộng Sản không được quên rằng Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia do các đảng Cộng Sản lãnh đạo, chúng ta cùng chung ông tổ Mác-Lê-nin. Rồi ông cung cấp thông tin, như muốn nhắc nhở các giáo sư đừng quên góp đá xây dựng Trường Sa, khi đã có đơn vị này đóng góp một tỷ đồng, mỗi người đơn vị kia đóng góp một ngày lương… rồi Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã làm các việc… Ông nhắc đi nhắc lại một điệp khúc “Nhiều lắm các thứ”…
- Mặc dầu chờ đợi, nhưng cử tọa tuyệt nhiên không thấy ông Chiến đưa ra một thông tin nào mới, trừ những thông tin mà các giáo sư đã tiếp nhận qua các phương tiện truyền thông và nhất là các trang mạng “lề Phải”, “lề Trái”. Và ông luôn nhắc đi nhắc lại “đây là vấn đề nhạy cảm” mà ông không thể nói ra, và ông Chiến cũng khuyên mọi người đừng nhắc đến…
- Khi nói về các cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, ông nhấn mạnh ta chưa đầy trăm triệu dân, Trung Quốc có gấp mười mấy lần số đó, mình biểu tình năm ngàn người thì họ biểu tình năm chục ngàn người… kinh khủng hơn thế… giải quyết vấn đề gì đâu!
- Nhưng có một thông tin mà cả giảng đường sững sờ: Khi nói về vụ Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 2 và tàu Viking 2 của ta, ông Chiến “lỡ mồm” đưa ra một lời răn dạy, chẳng qua chỉ là … là “Yêu cho đòn cho vọt” mà thôi!
Sau phần thuyết trình có nhiều câu hỏi. Ở đây xin chép lại 2 điều:
- Một vị nữ giáo sư nói: “Báo cáo một vấn đề nghiêm túc như thế này phải có chứng cứ khoa học, bằng chứng lịch sử, chứ không thể cái gì cũng “vấn đề nhạy cảm”. Vậy ra chúng tôi không đáng được cung cấp thông tin sao?”. Nghe xong lời vị nữ giáo sư này, ông Chiến liền hạ giọng phán rằng: “Không ai cấm các thầy cô nghiên cứu khoa học, nhưng nghiên cứu thì phải… cho nó… cẩn thận. Chúng ta có thể viết một trăm trang nghiêm túc, nhưng chỉ cần một dòng không cẩn thận là phía bạn có thể dùng nó để làm bằng chứng rằng đã có một giáo sư của Việt Nam nói năng như vậy đấy! …

http://www.danchimviet.info/archives/72676/tu-nhat-ban-hau-chien-den-viet-nam-hau-chien-3/2013/02

No comments:

Post a Comment