Trung Điền - Ngày 26
tháng 5 vừa qua, 3 tàu hải giám Trung Quốc đã xâm phạm vào vùng lãnh hải
Việt Nam, cách mũi Đại Lãnh, Phú Yên miền Trung Việt Nam khoảng 120 hải
lý. Đây là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam căn cứ
theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển Quốc Tế (1982). Không
những thế, 3 tàu hải giám Trung Quốc còn cắt dây cáp của tàu Bình Minh
02 thuộc Tập đoàn dầu khí Cộng sản Việt Nam đang thăm dò dầu khí trên
vùng biển này.
Việc
tàu Trung Quốc xâm phạm lãnh hải, giết chết ngư dân Việt Nam trên vùng
biển Hoàng sa, Trường sa và nhất là đưa ra khuyến cáo cấm đánh cá từ
ngày 15 tháng 5 đến cuối tháng 8 hàng năm để tự xác định chủ quyền trên
80% diện tích biển Đông có thể nói là một sự xâm lược “trắng trợn” và
“trơ tráo” của Trung Quốc, đồng thời phản ảnh sự “hèn kém” của nhà cầm
quyền CSVN trong nhiều năm qua. Tuy nhiên sự kiện xảy ra ngày 26 tháng 5
đã nâng cấp vấn đề biển Đông thành chính sách gây hấn nghiêm trọng khi
Trung Quốc bắt đầu tấn công và kiểm soát vùng biển, đe dọa an ninh của
Việt Nam.
Trung
tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ quốc phòng CSVN thì cho rằng hành
động của 3 tàu hải giám Trung Quốc vừa qua là sự chủ tâm của Trung Quốc
muốn biến vùng biển không tranh chấp (Thềm lục địa 200 hải lý của Việt
Nam) thành một vùng tranh chấp. Nghĩa là trước đây, những xung đột trên
biển Đông là do sự xâm phạm lãnh hải của tàu hải quân Trung Quốc, thì
nay, Trung Quốc không dừng ở chỗ “xâm phạm” mà ngang nhiên cướp chủ
quyền, biến vùng biển Việt Nam thành một phần của Đại Hán. Mục tiêu sâu
xa của Trung Quốc, theo nhận định của ông Nguyễn Chí Vịnh là Bắc Kinh
muốn hợp thực hóa sự xâm phạm của họ bằng cách đặt CSVN vào thế đã rồi,
phải nói chuyện với họ trên bàn đàm phán.
Sự
phân tích âm mưu của Bắc Kinh qua biến cố 26 tháng 5 của Tướng Nguyễn
Chí Vịnh, cho thấy là Hà Nội đã làm bộ ngây thơ, không biết rõ ý đồ của
Bắc Kinh và bây giờ mới phát giác ra. Thực chất, đây là một vụ dàn dựng
của cả Bắc Kinh lẫn Hà Nội trong việc giúp cho Trung Quốc từng bước thôn
tính Việt Nam. Tại sao?
Thứ
nhất là biến cố ngày 26 tháng 5 vừa qua xuất phát từ chính sách “hèn
với giặc – ác với dân” của Cộng sản Việt Nam. Nếu như CSVN không tìm
cách khống chế lòng yêu nước của người dân qua những cuộc biểu tình phản
đối Bắc Kinh cưỡng chiếm Hoàng sa, Trường sa, giết hại ngư dân trên
biển Đông, ra lệnh cấm đánh cá ngay trên lãnh hải Việt Nam…; và nếu CSVN
có những hành xử mạnh mẽ để phản đối Trung Quốc như Phi Luật Tân, Mã
Lai đã làm, thì Trung Quốc đã không dám “leo thang” sự xâm phạm và không
ngang nhiên đi vào vùng lãnh hải Việt Nam cắt dây cáp của tàu Bình Minh
02.
Thứ
hai là biết âm mưu xâm lược lãnh hải của Trung Quốc mà nhà cầm quyền
CSVN chỉ lên tiếng phản đối nhẹ nhàng, lấy lệ, và tuyên bố là sẽ giải
quyết bằng con đường ngoại giao thì lãnh đạo Hà Nội rõ ràng là đang
thông đồng với kẻ cướp, bán rẻ giang sơn để mua chuộc những ủng hộ chính
trị từ một đồng minh Cộng sản còn sót lại trên thế giới hầu giữ vững
quyền lực. Phản ứng nhẹ nhất của một quốc gia có chủ quyền là phải cho
hải quân bao vây 3 tàu hải giám và đòi bồi thường việc cắt dây cáp của
tàu Bình Minh 02, rồi sau đó mới thương thảo bằng đường ngoại giao để
ngăn chận cho các lần tới. Cách hành xử của Hà Nội quá yếu hèn đã khiến
cho Bắc Kinh coi thường dân tộc ta và càng ngày càng lấn lướt.
Thứ
ba là ngăn chận không cho dân chúng Việt Nam bày tỏ sự phản đối vụ xâm
phạm vừa qua. Nếu là một chính quyền vì dân và dựa trên sức mạnh của dân
thật sự, thì CSVN phải biết rằng chính sự phẫn nộ của dân chúng sẽ giúp
cho chế độ rất nhiều trong việc đối đầu với Bắc Kinh. Càng ngăn cản
người dân biểu lộ lòng yêu nước, Hà Nội lại càng lộ rõ chân tướng chư
hầu và thêm dầu vào lửa nỗi phẫn uất của người dân. Trước khí thế sôi
sục của công luận, CSVN đã phải “bật đèn”… vàng cho người dân đi biểu
tình trong sự canh gác nghiêm ngặt của mạng lưới công an dày đặc, đe dọa
và bắt giữ các nhà dân chủ, bloggers “lề trái”, lãnh đạo tôn giáo… Và
sau cuộc buổi biểu tình phản đối Trung Quốc đầy khí thế của người dân,
Hà Nội đã không dám loan tải tin tức một cách rộng rãi hay trung thực,
mà chỉ cho một vài tờ báo loan lại bản tin của Thông Tấn Xã nhà nước với
luận điệu bóp méo “không có biểu tình mà chỉ có một vài người tụ tập
phản đối”.
Nhìn
qua những ứng xử của CSVN nói trên chúng ta thấy rõ ràng là lãnh đạo Hà
Nội không dám đối đầu với Bắc Kinh để bảo vệ đất nước. Sự kiện Nguyễn
Tấn Dũng cho mua 6 tàu ngầm của Nga cũng như bỏ ra gần 2 tỷ Mỹ Kim để
tân trang vũ khí cách đây 2 năm, không biết để làm gì? Thái độ của Trung
tướng Nguyễn Chí Vịnh trong vụ 26 tháng 5 vừa qua, chẳng khác gì cách
hành xử của bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn nhân Bộ ngoại giao là “giải
quyết mọi xung đột bằng con đường ngoại giao”. Hóa ra ông Vịnh mặc áo
lính để làm công việc hòa giải của nhà ngoại giao hơn là một quân nhân.
Chính thái độ yếu hèn của Nguyễn Chí Vịnh và lãnh đạo Hà Nội đã khiến
cho Trung Quốc leo thang việc xâm chiếm những vùng lãnh hải Việt Nam.
Trong
khi đó, mọi tầng lớp dân chúng đều phẫn nộ. Thậm chí những cựu đảng
viên, cán bộ CSVN thấy quá “bức xúc” nên đã nhập vào dòng người xuống
đường đi biểu tình sáng ngày 5 tháng 6. Tuy cuộc biểu tình mang tính tự
phát qua sự kêu gọi của nhóm thanh niên “Nhật Ký Yêu Nuớc” trên mạng xã
hội Facebook, nhưng lời kêu gọi đã đáp ứng đúng tâm lý chờ đợi của mọi
người: phải có một hành động phản đối Bắc Kinh. Số người tham gia, dù
với tâm lý e ngại bị đàn áp như CSVN vẫn thường làm, đã đông đảo chưa
từng có trong suốt gần 4 thập niên qua. Buổi khởi động đầu tiên đã
chuyên chở thông điệp mạnh mẽ là: Dân tộc Việt Nam không hèn yếu như
tầng lớp lãnh đạo chỉ muốn bám chặt vào chiếc ghế quyền lực bằng mọi
cách, kể cả việc bán rẻ lương tâm và sẵn sàng làm nhục quốc thể.
Cuộc
biểu tình này 5 tháng 6 vừa qua chỉ mới là một khởi sự. Lòng người còn
nung nấu, bứt rứt trước thái độ hèn kém của Hà Nội, lo lắng vì chưa thấy
một thái độ dứt khoát đối với kẻ ngoại thù từ những kẻ trách nhiệm đất
nước, chưa thỏa lòng trong ý nguyện tuyên xưng chính nghĩa dân tộc và
phản đối chính sách xâm lược của kẻ láng giềng “to con mà xấu tính”
(viết theo một biểu ngữ của đoàn biểu tình ngày 5-6-2011). Chúng ta cần
phải có nhiều cuộc biểu tình liên tục trước sứ quán và lãnh sự Trung
Quốc thì mới hy vọng làm cho Bắc Kinh chùn bước, ngừng ý đồ xâm lấn các
vùng biển Việt Nam.
Trước
khi chết vào năm 1997, Đặng Tiểu Bình, cha đẻ của chính sách “Tứ hiện
đại hóa”, đã nói chuyện với một số cán bộ đảng. Đặng Tiểu Bình cho rằng
năm 2050 là năm mà Trung Quốc vượt qua khỏi nước Mỹ và trở thành cường
quốc số 1. Để đạt được tham vọng này, Đặng Tiểu Bình còn dạy cho các đàn
em của mình về nhu cầu kiểm soát hai vùng biển Thái Bình Dương và Ấn Độ
Dương cho đến năm 2025, như là gọng kềm giúp Trung Quốc đẩy Hoa Kỳ ra
khỏi Thái Bình Dương và làm chủ con đường huyết mạch chuyển dầu thô và
khí đốt từ Trung Đông về Trung Quốc. Nếu không hoàn tất sự kiểm soát này
cho đến năm 2025, theo Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc sẽ không thể làm bá
chủ để đối đầu với Hoa Kỳ.
Bá
chủ thế giới đã là giấc mơ lớn của lãnh đạo Bắc Kinh. Việc khống chế và
kiểm soát vùng biển của Việt Nam sẽ giúp cho Trung Quốc an tâm về con
đường vận chuyển dầu thô và khí đốt để phục vụ cho nhu cầu duy trì sự
phát triển nền công nghiệp. Khi thấy rõ tham vọng của Bắc Kinh, biển
Đông sẽ không chỉ dậy sóng mà còn mang tai ương đến cho dân tộc Việt Nam
từ đây cho đến khi Bắc Kinh hoàn tất việc khống chế hai vùng biển Thái
Bình Dương và Ấn Độ Dương. Chúng ta không thể nào chờ đợi một chính
quyền “Hèn với giặc – Ác với dân” bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ.
Người
Việt Nam phải tự đứng lên cứu lấy đất nước của mình. Hãy coi ngày 5
tháng 6 là ngày khởi đầu của quyết tâm cứu nước, để cùng nhau tiếp tục
xuống đường vào mỗi sáng chủ nhật. CSVN chỉ có hai lựa chọn là cùng đứng
với dân hay với giặc!
Trung Điền
Ngày 8/6/2011
Ngày 8/6/2011
No comments:
Post a Comment