TRẦN GIA PHỤNG - Chính
khí ca là thi phẩm ca tụng sự tuẫn tiết của Hoàng Diệu khi Pháp đánh
chiếm Hà Nội năm 1882. Tuẫn tiết là tự hủy thân xác và chết vì nghĩa
lớn, vì lý tưởng mà mình theo đuổi. Nghĩa lớn nhất trong đời người là
nghĩa đối với nhân loại, quốc gia, dân tộc. Tuẫn tiết là nét đặc thù của
một số nước Đông Á như Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản. Riêng Việt Nam,
nhiều cuộc tuẫn tiết rất anh hùng đã diễn ra trong lịch sử, đặc biệt
nhất vào năm 1975, khi chính thể Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ.
1.- TUẪN TIẾT QUA CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ
Không
kể thời kỳ tiền sử, từ khi Ngô Quyền lập quốc sau chiến thắng Bạch Đằng
Giang năm 938 cho đến ngày nay, nước ta trải qua các chế độ quân chủ,
quốc gia dân chủ và cộng sản. Nói theo ngôn ngữ chính trị, đó là ba ý
thức hệ khác nhau: ý thức hệ quân chủ, ý thức hệ dân chủ và ý thức hệ
cộng sản
Thời
kỳ quân chủ: Các triều đại quân chủ cai trị nước ta từ thời nhà Ngô
(939-965) đến thời nhà Nguyễn (1802-1945). Chế độ quân chủ dựa trên nền
tảng Nho giáo, một triết lý chính trị hậu thuẫn mạnh mẽ cho chế độ quân
chủ, theo đó vua là trung tâm quyền lực của xã hội, đứng đầu trong xã
hội, trên cả cha mẹ (quân, sư, phụ). Đất đai là đất đai của vua. Cuộc
sống của người dân do vua quyết định. Trung với nước là trung với vua và
ngược lại trung với vua là trung với nước. Trung quân ái quốc là hai
khái niệm song hành, hòa quyện nhau, tuy có khi khác nhau tùy hoàn cảnh.
Trong
các cuộc tranh chấp quyền lực giữa các thế lực chính trị trong nước,
tức tranh chấp nội bộ, ví dụ giữa nhà Trần với nhà Hồ, giữa nhà Lê với
nhà Mạc, giữa họ Nguyễn (Tây Sơn) với họ Nguyễn (Phú Xuân), thì tinh
thần trung quân được đề cao. Tuy nhiên, trong cuộc tranh đấu chống ngoại
xâm, thì tinh thần ái quốc mới là chính. Ví dụ câu nói bất hủ của Trần
Bình Trọng: “Ta thà làm quỷ nước Nam, không thà làm vương đất Bắc”; hoặc
trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, những thanh niên, trí thức nhà
Trần bỏ đất Bắc (có nhà hậu Trần), vào Thanh Hóa, gia nhập lực lượng
kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi; hoặc vào thế kỷ 18, những quan
lại nhà Lê giúp nhà Tây Sơn chống quân Thanh. Nói cho cùng, dưới thời
quân chủ, quan niệm trung quân ái quốc vẫn đặt căn bản trên nền tảng dân
tộc và lấy đất nước, dân tộc làm gốc.
Thời
kỳ quốc gia dân chủ: Pháp bảo hộ nước ta năm 1884. Nền quân chủ thất
bại. Dân chúng thất vọng, mất dần niềm tin vào triều đình, tinh thần
trung quân bị phai lạt nhưng lòng ái quốc vẫn không giảm. Các cuộc khởi
nghĩa chống Pháp tiếp diễn khắp nơi.
Bên
cạnh các phong trào võ trang chống Pháp, vào đầu thế kỷ 20, Phan Châu
Trinh mở phong trào Duy tân, hô hào cải cách đất nước đồng thời kêu gọi
phát huy dân chủ, dân quyền, nhằm tiến đến việc giành độc lập dân tộc.
Theo Phan Châu Trinh, “dân đã biết có quyền thì việc khác có thể tính
lần được”. Đây là mở đầu tiến trình vận động dân chủ tại nước ta.
Sau
đó, tại Hà Nội, Nguyễn Thái Học và nhóm Nam Đồng Thư Xã tiến xa hơn,
thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng tối 25 rạng 26-12-1927. Điều lệ đảng
ghi rõ: “Mục đích và tôn chỉ của Đảng là làm một cuộc cách mạng quốc
gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước
Việt Nam Độc lập Cộng hòa.” (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Sài
Gòn 1970, tr. 33.) Nhiều đảng viên VNQDĐ đã hy sinh trong giai đoạn nầy
mà cao điểm là Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí bị Pháp đưa lên máy
chém tại Yên Bái ngày 17-6-1930. Mười ba nhân vật nầy là những anh hùng
tuẫn tiết đầu tiên cho lý tưởng quốc gia dân tộc sau thời kỳ quân chủ.
Sau
vụ Yên Bái, hoạt động của những nhà chính trị theo chủ nghĩa dân tộc bị
Pháp đàn áp và gặp nhiều khó khăn một thời gian, cho đến khi Pháp lúng
túng trong thế chiến thứ hai và nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương bị Nhật
Bản khống chế. Những đảng phái mới và những tên tuổi mới xuất hiện:
Trương Tử Anh, Nguyễn Hữu Thanh (Lý Đông A), Nguyễn Tường Tam…
Hồ
Chí Minh, mặt trận Việt Minh (VM) và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD)
cướp chính quyền ngày 2-9-1945, thành lập chính phủ Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa (VNDCCH). Khuynh hướng chính trị dân tộc lại bị CS đàn áp,
khủng bố và tiêu diệt. Những người theo đường lối quốc gia dân tộc với
lập trường tự do dân chủ bị dồn vào thế tranh đấu sống còn với VMCS. Họ
muốn mưu cầu độc lập dân tộc, nhưng ở thế chẳng đặng đừng phải tạm thời
liên kết với Pháp, tìm kiếm một giải pháp chính trị để chống cộng, vì
hiểm họa cộng sản nguy hiểm hơn cho đất nước, cho tự do dân chủ và cho
chính sinh mạng dân tộc.
Giải
pháp chính trị đó là sự thành lập chính thể Quốc Gia Việt Nam (QGVN)
theo Hiệp định Élysée ngày 8-3-1949, thừa nhận Việt Nam độc lập trong
Liên Hiệp Pháp. Chính thể QGVN hoàn toàn đối lập với chính thể VNDCCH do
đảng CS điều khiển. Từ đây, vươn lên mạnh mẽ tất cả những khuynh hướng
chính trị theo chủ trương dân tộc, tôn trọng dân quyền, dân chủ tự do,
chống lại chủ thuyết và chế độ cộng sản độc tài đảng trị theo quốc tế
cộng sản.
Hiệp
định Genève (20-7-1954) chia hai đất nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17 (sông
Bến Hải, tỉnh Quảng Trị). Miền Bắc, VNDCCH theo chủ nghĩa CS, do Hồ Chí
Minh và đảng Cộng Sản cai trị. Miền Nam là QGVN do cựu hoàng Bảo Đại làm
quốc trưởng và Ngô Đình Diệm giữ chức thủ tướng. Ông Diệm thành lập
Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10-1955, theo chính thể dân chủ tự do.
Thời
kỳ cộng sản: Tại Nga, sau cuộc cách mạng ngày 7-11-1917, đảng Cộng Sản
lên nắm chính quyền. Ổn định xong tình hình trong nước, đảng CS Nga
thành lập Cộng Hòa Liên bang Xô Viết (viết tắt là Liên Xô) cuối năm
1922, muốn bành trướng thế lực ra nước ngoài, cạnh tranh với các nước
Tây phương, thành lập một đế quốc đỏ kiểu mới do CS thống trị, nên Liên
Xô đưa ra chiêu bài giải phóng dân tộc, xúi giục các nước bị đô hộ
(thuộc địa) nổi lên giành độc lập, rồi gia nhập khối Liên Xô. Hồ Chí
Minh (lúc đó có tên là Nguyễn Ái Quốc), một gián điệp xuất thân từ Học
Viện Thợ Thuyền Đông Phương ở Moscow, được gởi qua Á Châu năm 1924 để
thi hành sứ mạng nầy.
Trong
khi VNQDĐ hoạt động ở trong nước, thì tại Hương Cảng, vâng lệnh Đệ tam
Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS), ngày 6-1-1930, Hồ Chí Minh lúc đó có tên là
Lý Thụy, đứng ra thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), đổi thành đảng
Cộng Sản Đông Dương (CSĐD), và ngày thành lập cũng đổi thành 3-2-1930.
Đảng CSĐD đổi tên thành đảng Lao Động năm 1951 và đảng Lao Động đổi trở
lại thành đảng CSVN năm 1976. Tuy thay đổi nhiều danh xưng, nhưng chung
quy đảng CSVN cũng chỉ là một đảng do ĐTQTCS thành lập, thi hành chủ
nghĩa CS trên đất nước Việt Nam.
Hồ
Chí Minh và đảng CS luôn luôn sử dụng chiêu bài dân tộc để hô hào và
quy tụ quần chúng, nhưng tất cả những hoạt động của Hồ Chí Minh và đảng
CS chỉ nhắm mục đích duy nhất là phục vụ đảng CS, phục vụ QTCS. Trong
Đại hội lần thứ 2 đảng CSĐD từ 11 đến 19-2-1951 tại huyện Chiêm Hóa tỉnh
Tuyên Quang, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Đảng ta có một chủ nghĩa cách mạng
nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa: [chỉ Marx,
Engels, Lénine]… Với chủ nghĩa như thế, với Ông thày, Ông anh như thế,
với lòng trung thành và kiên quyết của nhân dân ta, của Đảng ta, nhất
định chúng ta thắng lợi.” (Báo HỌC TẬP – Nội san đảng bộ Liên Khu Bốn
(Chỉ lưu hành trong nội bộ), Số 35, năm thứ tư, tháng 4 – 1951, trang
1-8. Nguồn: Talawas, 28-09-2010.)
Sau
đó, trên báo Tin Tức (Liên Xô) số đặc biệt ngày 1-7-1951, Hồ Chí Minh
nhận rằng VNDCCH là một tiền đồn của chủ nghĩa cộng sản: “Như vậy là ở
Đông Nam Á, chúng tôi đã đứng ở tiền đồn của mặt trận dân chủ và hòa
bình toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh.” (Hồ Chí Minh
toàn tập tập 9, 1958-1959, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tr.
309.)
Sau
năm 1954, Hồ Chí Minh và đảng CS cai trị phía bắc vĩ tuyến 17, áp dụng
nền kinh tế chỉ huy, thi hành Cải cách ruộng đất, đàn áp báo chí, thủ
tiêu đối lập, đồng thời quyết định tiếp tục xâm lăng miền Nam Việt Nam,
đưa ra chiêu bài mới là “chống Mỹ cứu nước”, vừa để bành trưóng quyền
lực, vừa để cầm chân và làm cho Hoa Kỳ suy yếu, giúp Liên Xô và Trung
Quốc rảnh tay bành trướng ở các nơi khác trong chiến tranh lạnh toàn
cầu. Lê Duẫn, lúc đó là bí thư thứ nhất đảng Lao Động (tức đảng Cộng
Sản) đã tuyên bố: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.”
(Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr.
422.)
Nói
cách khác, CSVN không xuất phát từ dân tộc, lý thuyết CSVN không đặt
căn bản trên nền tảng dân tộc, hoàn toàn mất gốc dân tộc, đặt quyền lợi
của đảng CS và Quốc tế Cộng sản lên trên quyền lợi quốc gia, dân tộc. Rõ
rệt nhất là lòng yêu nước của người cộng sản biến đổi mục tiêu theo
khẩu hiệu do đảng CS đã đặt ra: “Yêu tổ quốc là yêu chủ nghĩa xã hội”.
Người CS xem các lãnh tụ ngoại bang còn cao hơn cả cha mẹ mình: “Thương
cha, thương mẹ, thương chồng,/Thương mình thương một, thương ông thương
mười.” (Tố Hữu). Ngay cả Hồ Chí Minh, người sáng lập đảng CSVN, cho đến
khi chết cũng không muốn trở về với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, mà chỉ muốn
đi gặp các lãnh tụ cộng sản “…Vì vậy tôi để sẵn mấy lời nầy, fòng khi
tôi sẽ đi gặp cụ Cac Mac, cụ Lênin và các vị c. m. đàn anh khác…” (Di
chúc Hồ Chí Minh).
Do
đó, chúng ta không lấy làm lạ nhà cầm quyền CSVN trong nước hiện nay
thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc cộng sản xâm lược;
bắt giam, hành hạ, tù đày những người tham gia các cuộc biểu tình chỉ vì
lòng yêu nước. Những đảng viên CSVN chỉ còn biết có đảng CS và vì quyền
lợi của đảng CS. Bảng pa-nô lớn treo ở Hà Nội năm 2010 cho thấy đầy đủ
lý tưởng của người cộng sản: CHỈ BIẾT CÒN ĐẢNG, CÒN MÌNH.
2.- TUẪN TIẾT NĂM 1975
Hoàn
cảnh: Sau năm 1954, Nam Việt Nam theo chính thể QGVN rồi VNCH, tồn tại
trong 21 năm và bị Bắc Việt Nam cưỡng chiếm năm 1975. Dù bị hạn chế vì
chiến tranh, chính thể Nam Việt Nam luôn luôn tôn trọng nền tự do dân
chủ . Trong 21 năm nầy, lãnh đạo QGVN và VNCH ở tất cả các cấp có thể
chia thành hai thế hệ kế tiếp nhau. Thứ nhất là thế hệ những người còn
lại từ chế độ cũ. Thứ hai là thế hệ những người được đào tạo trong lòng
chế độ mới ở trong nước.
Sau
1954 Nam Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhưng lúc đầu những cán bộ, công
chức chính phủ từ trung ương xuống tới địa phương, kể cả tổng thống
Diệm, đều do Pháp đào tạo. Những chuyên viên như kỹ sư, bác sĩ, thậm chí
cả những giáo chức đều xuất thân từ các trường Pháp. Các tướng lãnh và
sĩ quan cao cấp cũng từ quân đội Pháp. Vì vậy, trong thời Đệ nhất Cộng
hòa ở miền Nam Việt Nam, cán bộ và chuyên viên thời kỳ nầy vẫn còn chịu
ít nhiều ảnh hưởng của Pháp, dầu không còn người Pháp.
Quốc
trưởng Bảo Đại, và nhất là tổng thống Ngô Đình Diệm đã có công xây dựng
những cơ sở đào tạo một lớp cán bộ, chuyên viên, cán sự mới cho miền
Nam Việt Nam, như các trường sĩ quan Nam Định, Thủ Đức, Đà Lạt, trường
Quốc Gia Hành Chánh, các trường chuyên nghiệp, các viện đại học, các
trường sư phạm… Từ đây xuất thân một lớp công chức, quân nhân, cán bộ và
chuyên viên hoàn toàn mới trong tinh thần quốc gia dân tộc.
Những
người tốt nghiệp từ các trường nầy được bổ sung và thay thế dần dần các
lớp đàn anh, học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm thực tế, rồi sau đó mới
thực sự trưởng thành. Từ đầu thập niên 60, hầu như tất cả các ngành, kể
cả quân đội, mới có những chuyên viên, những nhà lãnh đạo thực sự tốt
nghiệp ở trong nước. Quân đội có những sĩ quan tinh nhuệ gốc từ các
trưòng võ bị Nam Định, Thủ Đức, Đà Lạt. Bệnh viện thêm nhiều tân bác sĩ,
cán sự y tế xuất thân từ Sài Gòn và Huế. Trường học do các giáo chức từ
các trường sư phạm điều hành và giảng dạy. Mọi ngành nghề đều có những
cán bộ, công chức lớn lên dưới chính thể Quốc Gia thời quốc trưởng Bảo
Đại hoặc chính thể VNCH, được đào tạo ở trong nước, tin tưởng vào giá
trị nhân bản và dân tộc, dân chủ của chế độ, làm việc và cọ xát với xã
hội, thực sự gắn bó với chính thể, và chiến đấu hết mình nhằm bảo vệ nền
tự do dân chủ của miền Nam Việt Nam. Chỉ tiếc một điều là khi thế hệ
mới nầy thực sự làm chủ đất nước, chiến đấu vì nền tự do dân chủ của
miền Nam Việt Nam, chưa kịp củng cố chế độ thì thời thế thay đổi, bàn cờ
thế giới xoay chiều, nên quân dân miền Nam đành buông súng.
Những
cuộc tuẫn tiết: Ngày 30-4-1975, trong khi Quốc tế cộng sản hậu thuẫn
cho quân đội cộng sản Bắc Việt tấn công miền Nam Việt Nam thì miền Nam
Việt Nam bị Đồng minh bỏ rơi. Chính thể VNCH sụp đổ. Rất nhiều người đã
tuẫn tiết. Tuẫn tiết ngay ngày 30-4-1975 hay tuẫn tiết âm thầm trong các
trại tù cộng sản trên rừng thiêng nước độc. Càng ngày người ta càng
phát hiện những anh hùng vô danh tuẫn tiết sau ngày 30-4-1975.
Nhận
xét thứ nhất, những người tuẫn tiết là những nhân vật trung nghĩa với
chính thể VNCH, can trường, dũng cảm, tinh thần trách nhiệm cao, lấy cái
chết để đền nợ nước non, vì tự cảm thấy không đủ sức bảo vệ nền dân chủ
tự do son trẻ của miền Nam Việt Nam. Hầu như toàn thể những người tuẫn
tiết ngày 30-4-1975 và ở trong các trại tù cộng sản đều thuộc vào thế hệ
những người đã được đào tạo dưới chính thể QGVN và VNCH, tận lực chiến
đấu để bảo vệ miền Nam Việt Nam, bảo vệ lý tưởng dân tộc, tự do dân chủ
của chính thể Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam.
Nhìn
vào lịch sử, chưa có thời kỳ nào, chưa có chế độ nào sụp đổ mà những
người tuẫn tiết nhiều như thời kỳ 1975. Cũng nhìn vào lịch sử, chưa có
thời kỳ nào, chưa có chế độ nào mà những người tuẫn tiết đa dạng như
thế. Dưới chế độ quân chủ, chỉ có một số ít, rất ít các tướng lãnh và
quan lại cao cấp hy sinh vì lòng trung quân ái quốc. Với chủ nghĩa cộng
sản, chỉ những thường dân hay binh sĩ cấp nhỏ bị nhồi sọ và bị lừa phỉnh
nên đã hy sinh hoặc bị làm vật hy sinh cho đảng CS và cho các lãnh tụ
đảng CS. Đàng nầy, chính thể VNCH sụp đổ, không ai bắt họ tuẫn tiết,
nhưng họ vẫn nhất quyết hy sinh. Những người tuẫn tiết năm 1975 không
phải chỉ có hàng tướng lãnh, mà rất nhiều sĩ quan trung cấp và binh sĩ
tuẫn tiết. Còn có một số quân nhân tuẫn tiết tập thể. Những anh hùng nầy
tự nguyện tuẫn tiết vì lý tưởng tự do dân chủ VNCH chứ không vì một cá
nhân nào cả.
Khi
quyết định khởi nghĩa năm 1930, dầu trong thế yếu, Nguyễn Thái Học đã
khuyến khích đồng đội: “Không thành công thì thành nhân.” Câu nầy bắt
nguồn từ ý nghĩa của thành ngữ chữ Nho: “Sát thân thành nhân”, nghĩa là
chịu chết (tự giết mình) để hoàn thành đạo “nhân”, tức đạo làm người,
xem đạo làm người lớn hơn thân mình.
Những
người tuẫn tiết năm 1975 đúng là những người “sát thân thành nhân”,
thực hiện đạo làm người đối với dân tộc, tận trung báo quốc. Chẳng những
thế, những anh hùng tuẫn tiết năm 1975 còn tự sát thân để phản đối chế
độ CS diệt chủng, phi nhân, báo động cho toàn thể nhân loại nguy cơ CS
trên thế giới. Mãi đến hơn 30 năm sau, ngày 25-1-2006, Quốc hội Âu Châu
họp tại Strasbourg (Pháp) với đa số áp đảo, 99 phiếu thuận, 42 phiếu
chống, mới đưa ra nghị quyết số 1481, lên án chủ nghĩa cộng sản là tội
ác chống nhân loại, và các chế độ toàn trị cộng sản đã vi phạm nhân
quyền tập thể. Nghị quyết nầy càng làm sáng tỏ và tăng giá trị những anh
hùng tuẫn tiết ở miền Nam Việt Nam năm 1975.
Vai
trò lịch sử: Chủ nghĩa dân tộc bị người Pháp đàn áp và bị cộng sản quốc
tế đánh phá, bắt đầu được phục hồi với dưới các chính thể QGVN và VNCH,
lại bị CS chôn vùi lần nữa vào năm 1975.
Những
anh hùng tuẫn tiết năm 1975 thuộc thế hệ lớn lên và đào tạo thời QGVN
và VNCH, chính là kết quả của nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam là nền
giáo dục nhân bản, dân tộc và khai phóng, lấy con người làm trọng, theo
truyền thống văn hóa dân tộc, không có tính cách giáo điều hay nhồi sọ
bất cứ lý thuyết chính trị hay tôn giáo nào.
Những
cuộc tuẫn tiết năm 1975 đã làm sáng tỏ hơn nữa chính nghĩa chiến đấu
của quân dân miền Nam, để bảo vệ miền Nam tự do, chống lại chủ nghĩa
cộng sản quốc tế. Những anh hùng tuẫn tiết đã hy sinh sự sống của họ,
nhưng chính những sự tuẫn tiết đó trở thành sự sống vĩnh cửu của VNCH
trong lịch sử dân tộc, đồng thời đã thổi một luồng sinh khí mới vào sinh
mệnh chính trị VNCH, lưu truyền chính nghĩa VNCH, dầu chính thể VNCH
sụp đổ năm 1975.
Chính
nhờ thế, cho đến nay, gần bốn chục năm sau, dầu không chính quyền,
không lãnh thổ, dòng sống VNCH vẫn tồn tại khắp nơi trên thế giới. Chính
nghĩa VNCH dựa trên nền tảng dân tộc là điểm tựa tinh thần cho toàn thể
người Việt hải ngoại quy tụ lại với nhau dưới lá Cờ vàng ba sọc đỏ,
biểu tượng của chính thể VNCH. Có thể nói, quanh khắp quả địa cầu nầy,
Cờ vàng ba sọc đỏ hiên ngang phất phới tung bay khắp bốn phương trời,
trong khi lá cờ CSVN, tượng trưng cho chế độ đang cai trị hiện nay ở
trong nước, thì núp trong nhà, chỉ ru rú trong các tòa đại sứ hay các
tòa lãnh sự mà thôi. Trong lịch sử thế giới, chưa có một hiện tượng
nghịch lý nào lạ lùng như thế.
Điểm
đáng nói nữa là trong gần bốn chục năm qua, khi làm lễ Kỷ niệm ngày
Quốc hận 30-4, đồng bào hải ngoại luôn luôn dâng hương tưởng niệm những
anh hùng tuẫn tiết. Anh hồn những anh hùng tuẫn tiết đã hòa nhập vào hồn
thiêng sông núi, nuôi dưỡng vững chắc niềm tin vào chính nghĩa dân tộc
và tình tự quê hương trong lòng người Việt khắp thế giới.
HONNEUR
à nos SOLDATS morts pour la LIBERTÉ (Vinh danh những chiến sĩ của chúng
ta đã hy sinh vì tự do) (Paris 27-4-1975 – Nguồn: Hình Internet)
KẾT LUẬN
Tóm
lại, trong thời kỳ quân chủ hay quốc gia dân chủ, người Việt chiến đấu,
hy sinh vì quyền lợi dân tộc. Trong thời kỳ cộng sản, người cộng sản
cho rằng họ chiến đấu vì quyền lợi dân tộc, nhưng thật sự họ bị tập đoàn
lãnh đạo CSVN phỉnh gạt và sử dụng công sức của họ để phục vụ cho quyền
lợi của quốc tế CS như Lê Duẫn đã tuyên bố: “Ta đánh Mỹ là đánh cho
Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.” Ngày nay, QTCS không còn, nhưng CSVN vẫn
tiếp tục thần phục Trung Cộng.
Năm
1975, VNCH sụp đổ. Những anh hùng tuẫn tiết năm 1975 đã viết lên một
bản chính khí ca mới, bản tân chí khí ca, làm sáng tỏ đại nghĩa dân chủ
tự do, nuôi dưỡng tinh thần dân tộc, tạo động lực thúc đẩy toàn dân Việt
Nam quyết tâm tiếp tục cuộc tranh đấu, chống chế độ cộng sản độc tài
toàn trị lệ thuộc Trung Cộng. Cuộc tranh đấu mới nầy có thể chậm, nhưng
chắc chắn sẽ thành công. Việt Nam thân yêu sẽ trở lại tự do, dân chủ và
độc lập.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 15-4-2012)


No comments:
Post a Comment