Friday, November 25, 2011

Vấn đề Dân Chủ và Đối Lập


Cuộc tranh đấu chung quanh ý niệm dân chủ.
Trong diễn tiến dung hòa và chống chọi nhau giữa các luồng tư tưởng chánh yếu, đã có một hiện tượng đáng lưu ý là cuộc tranh đấu nhau chung quanh ý niệm Dân chủ. Hiện nay, có nhiều chủ trương cùng tự xưng là Dân chủ, nhưng lại chống chọi nhau mãnh liệt. Hai phe đã đương đầu nhau một cách dữ dội từ sau Thế chiến II là Dân chủ tự do và Dân chủ xã hội.
I – SO SÁNH QUAN NIỆM CĂN BẢN CỦA HAI BÊN
A – NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG
Sở dĩ cả hai phe chống chọi nhau đều tự xưng là Dân chủ được là vì họ đã dựa vào một số quan niệm căn bản như nhau.
1 – Theo mọi phe tự xưng là Dân chủ, con người phải được tự do và bình đẳng.
2 – Vì mọi người trong cộng đồng đều bình đẳng nhau nên không một cá nhân hay một dòng họ nào có thể làm chủ quốc gia, và quốc gia phải được xem là sở hữu của toàn thể nhân dân.
3 – Do chỗ mọi người đều tự do và bình đẳng và quốc gia là sở hữu của toàn thể nhân dân nên người công dân không phải tùng phục một cá nhân nào, chỉ tùng phục luật pháp, và luật pháp này lại không phải là ý muốn một cá nhân hay một tổ chức nào, mà phải do ý muốn của nhân dân mà ra.
4 – Luật pháp quan trọng như vậy cho nên cộng đồng phải có một thủ tục làm luật pháp rõ rệt và mọi việc đều phải làm theo như luật pháp ấn định. Theo lề lối thông thường áp dụng ở các nước gọi là Dân chủ, trên hết có đạo luật căn bản là Hiến Pháp được thiết lập đầu tiên theo một thủ tục đặc biệt và có tánh cánh trường cửu. Luật pháp thường phải phù hợp với Hiến Pháp. Nhà cầm quyền phải được chọn lựa và bổ nhiệm đúng theo luật pháp và khi được bổ nhiệm rồi thì phải tuân theo luật pháp trong khi hành sự.
5 – Hiến pháp và các luật pháp căn bản phải bảo đảm một số quyền lợi đặc biệt của người dân trên căn bản tự do và bình đẳng.
B – NHỮNG ĐIỂM DỊ BIỆT
Tuy nguyên tắc căn bản giống nhau như trên đây đã nói, hai quan niệm Dân chủ tự do và Dân chủ xã hội lại có những điểm rất khác nhau vì một sự chọn lựa về cứu cánh và chủ trương căn bản đã đưa ra những quy tắc áp dụng khác nhau trong đời sống thực tế.
1 – Sự khác biệt trong cứu cánh và chủ trương căn bản. Về mặt cứu cánh, quan niệm Dân chủ tự do lấy việc bảo vệ cá nhân, tức là con người với tư cách là con người, làm trọng; trong khi quan niệm Dân chủ xã hội lấy việc bảo vệ tập thể, tức là toàn thể cộng đồng làm trọng.
Tập thể chỉ có một quyền lợi vật chất và tinh thần duy nhứt trong khi các cá nhân trong tập thể có nhiều quyền lợi vật chất và tinh thần khác nhau. Do chỗ khác nhau này mà sự chọn lựa lấy cá nhân hay lấy tập thể làm trọng đã đưa các quan niệm Dân chủ tự do và Dân chủ xã hội đến những chủ trương căn bản khác nhau: một bên theo chủ trương đa phương, một bên theo chủ trương toàn diện.
2 – Sự khác biệt trong các quy tắc áp dụng ra thực tế. Trên bình diện thực tế, sự dị biệt trong cứu cánh và chủ trương căn bản đã đưa đến những dị biệt sau đây:
a – Chánh đảng và đối lập. Chế độ Dân chủ xã hội theo quy tắc độc đảng và không công nhận đối lập, còn chế độ Dân chủ tự do theo nguyên tắc đa đảng và chấp nhận đối lập.
- Quan niệm Dân chủ xã hội lấy việc bảo vệ quyền lợi tập thể làm cứu cánh. Tập thể vốn chỉ có một quyền lợi vật chất và tinh thần duy nhứt và đảng Cộng sản là đoàn thể được thành lập để phục vụ quyền lợi đó. Bởi vậy, chỉ có đảng Cộng sản mới được quyền cầm quyền điều khiển công việc quốc gia. Trong khuôn khổ của quan niệm Dân chủ xã hội, chống chọi lại đảng Cộng sản là chống chọi lại quyền lợi tập thể, tức là quyền lợi chung của mọi người. Do đó, đối lập bị đồng hóa với phản quốc hại dân và vì lẽ không chánh quyền nào có thể dung nạp những cá nhân và đoàn thể phản quốc hại dân nên chế độ Dân chủ xã hội không chấp nhận đối lập. Trong chế độ Dân chủ xã hội, chỉ có đảng Cộng sản là được hoạt động và cầm quyền. Nếu có lý do nào đó mà người Cộng sản còn phải dung nạp một vài chánh đảng tồn tại thì các chánh đảng này cũng chỉ là các đảng nhỏ không thực lực, không có quyền tự do hoạt động và không được đứng vào thế đối lập mà phải giữ vai tuồng phụ trợ cho đảng Cộng sản. Kết quả của các quy tắc độc đảng là không công nhận đối lập và chánh quyền lúc nào cũng phải do đảng Cộng sản nắm giữ. Sự giành quyền vị hay thay đổi lãnh đạp bị hạn chế trong khuôn khổ của đảng Cộng sản cầm quyền, không có sự tham dự của nhân dân.
- Quan niệm Dân chủ tự do lấy việc bảo vệ quyền lợi cá nhân là cứu cánh mà mỗi cá nhân đều có quyền lợi vật chất và tinh thần riêng rẽ của mình, và các quyền lợi nầy không thể hợp nhứt làm một được. Bởi vậy, chế độ Dân chủ tự do phải để cho công dân kết hợp nhau trong nhiều chánh đảng, mỗi chánh đảng binh vực cho quyền lợi vật chất và tinh thần của một số cá nhân. Các chánh đảng đều được tự do hoạt động để bành trướng thế lực và chen vào chánh quyền. Chánh đảng hoặc nhóm chánh đảng nào có chương trình hoạt đồng phù hợp với quyền lợi của số đông thì được nắm chánh quyền, các chánh đảng khác giữ vai tuồng đối lập, chỉ trích chánh đảng cầm quyền và tìm cách chứng minh rằng sự hoạt động của chánh đảng hay nhóm chánh đảng cầm quyền không có lợi cho quốc gia. Nếu đa số nhân dân cho rằng đối lập chỉ trích sai, họ sẽ tiếp tục ủng hộ phe nắm chánh quyền. Trái lại, nếu đa số nhân dân cho rằng đối lập có lý, họ sẽ đưa dối lập lên nắm chánh quyền và làm đối lập điều này chúng ta thấy ngay tại hầu hết những nước có nền Dân chủ tự do (Canada, Úc Đại Lợi, Hoa Kỳ…), đã làm điều kiện căn bản vững chắc cho việc phát triển đất nước giàu mạnh.
Vậy, quy tắc đa đảng và sự chấp nhận đối lập đưa đến việc các chánh đảng khác nhau thay phiên nhau nắm chánh quyền. Việc thay đổi này thực hiện qua những cuộc bầu cử trung thực và có định kỳ.
b – Tập quyền và phân quyền. Chế độ Dân chủ xã hội theo quy tắc tập quyền còn chế độ Dân chủ tự do theo quy tắc phân quyền. Việc tổ chức các cơ cấu chánh quyền trong nước có thể theo nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, xét về mặt thực tế thì dầu theo hình thức nào, các nước Cộng sản theo chế độ Dân chủ xã hội cũng đều tập trung quyền hành vào tay đảng Cộng sản. Do chỗ đảng Cộng sản nắm quyền quyết định tối hậu về tất cả mọi vấn đề nên dầu cho nước theo Cộng sản có nhiều cơ quan khác nhau, các cơ quan ấy đều phải làm theo chỉ thị của đảng Cộng sản chớ không thể có quyết định khác với ý muốn của đảng Cộng sản được.
Phía các nước theo chế độ Dân chủ tự do thì ít nhứt cũng có sự phân quyền giữa ba cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Mối liên hệ giữa ba cơ quan đó có thể khác nhau tùy nước, nhưng nói chung lại thì mỗi cơ quan đều có quyền riêng của mình, không cơ quan nào được trọn quyền quyết định và bắt buộc được cơ quan khác phải theo ý mình. Mặt khác, sự hiện diện của nhiều chánh đảng và sự chấp nhận cho đối lập được tự do hoạt động làm cho không chánh đảng nào có thể nắm giữ trọn vẹn hết các cơ quan khác nhau của quốc gia để bắt các cơ quan ấy làm theo ý mình.
c – Phạt lầm và tha lầm. Chế độ Dân chủ xã hội lấy việc bảo vệ quyền lợi tập thể làm cứu cánh nên xem nhẹ quyền lợi của cá nhân. Do đó, khi nhận thấy rằng quyền lợi tập thể bị đe dọa, nhà cầm quyền có thể trừng phạt những cá nhân mà họ cho là có hoạt động bất lợi cho tập thể. Quan niệm về việc có hành động bất lợi cho tập thể thật sự không phải lúc nào cũng rõ ràng minh xác và nhiều khi được gồm chung vào những tội danh mơ hồ như “phản cách mạng”, “phản xã hội”, “phản động”. Mặt khác, việc đặt quyền lợi tập thể lên trên làm cho nhà cầm quyền có thể trừng phạt dầu cho họ không có đủ bằng cớ. Trong một chế độ theo chủ trương như vậy, nhiều người có thể bị trừng phạt oan ức, nhưng với chế độ Dân chủ xã hội, điều này không quan trọng vì cá nhân phải hy sinh cho tập thể.
Chế độ Dân chủ tự do trái lại, lấy việc bảo vệ quyền lợi cá nhân làm cứu cánh nên hệ thống luật pháp nhắm vào việc bảo đảm cho người công dân không bị trừng phạt oan ức. Để thực hiện lý tưởng này, chế độ Dân chủ tự do áp dụng một số quy tắc như sau:
- Có luật mới có phạt; người công dân chỉ bị truy tố và trừng phạt khi vi phạm một điều luật đã được ban hành. Một việc làm có thể bị mọi người cho là sai quấy, nhưng nếu không có một điều luật cho đó là việc sai quấy và ấn định sự trừng phạt thì người công dân làm việc đó không thể bị truy tố.
- Muốn truy tố một người, phía chánh quyền phải chứng minh rằng người ấy quả có hành động vi phạm luật pháp. Nếu không có đủ bằng chứng rõ rệt thì phải tha bổng bị cáo. Đó là quy tắc thà tha lầm một người có tội chớ không thể trừng phạt một người vô tội.
- Để chánh quyền không thể vi phạm các quy tắc trên đây, các vị Thẩm phán xử án được độc lập đối với nhà cầm quyền Lập pháp và Hành pháp và không bị bắt buộc phải làm điều gì trái với luật pháp và lương tâm. Chế độ phân quyền và sự hiện diện của đối lập giúp vào việc bảo đảm cho sự độc lập của Thẩm phán nói trên đây.
d – Chấp nhận và không chấp nhận quyền tư hữu trên phương tiện sản xuất.
Quan niệm Dân chủ xã hội không chấp nhận cho tư nhân có quyền sở hữu trên các phương tiện sản xuất vì cho rằng điều này đưa đến nạn Tư bản bóc lột. Do đó, trong chế độ Cộng sản, tất cả các phương tiện sản xuất đều được quốc hữu hóa (quốc doanh) và do chánh quyền điều khiển. Kết quả là tất cả mọi người đều là công nhân của nhà nước; nếu chế độ Cộng sản có chấp nhận cho một số người có của riêng dùng trong sự sản xuất thì nó cũng hạn chế số người này, đồng thời hạn chế quyền của họ. Nói chung thì với chế độ Cộng sản, quan niệm Dân chủ xã hội kiểm soát đời sống người dân một cách chặt chẽ vì có thể trực tiếp ảnh hưởng đến sự làm việc để sanh sống của họ.
Chế độ Dân chủ tự do xem quyền tư hữu là một quyền căn bản của người dân. Do đó, sự hạn chế quyền tư hữu tuy có thể được chấp nhận vì lý do công ích nhưng không thể đi xa quá và đa số người dân được quyền có những của riêng được dùng vào việc sản xuất. Do đó, người dân trong chế độ Dân chủ tự do ít tùy thuộc Nhà nước hơn người dân trong chế độ Dân chủ xã hội.
II – ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA HAI CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XÃ HỘI VÀ DÂN CHỦ TỰ DO
So sánh hai chế độ Dân chủ xã hội và Dân chủ tự do với nhau, ta thấy rằng chế độ nào cũng có ưu và nhược điểm.
A – ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XÃ HỘI
1 – Các ưu và nhược điểm của chế độ Dân chủ xã hội
a – Về mặt thuần túy. Xét về mặt thuần túy, chế độ Dân chủ xã hội có những ưu điểm sau đây:
- Đem quyền lợi chung của toàn thể nhân dân so với quyền lợi riêng của cá nhân thì quyền lợi chung của toàn thể nhân dân rõ rệt là quan trọng hơn và đáng được bảo vệ hơn.
- Người cầm quyền có tài và có công được tôn sùng và có thể phục vụ quốc gia lâu dài, không bị các cuộc bầu cử loại bỏ khi dân chúng thay đổi ý kiến một cách bất thường, hoặc bất mãn một cách vô lý vì những khó khăn tự nhiên mà không chánh quyền nào có thể tránh được.
b – Về mặt thực tế. Xét về mặt thực tế, chánh quyền trong chế độ Dân chủ xã hội có thể quyết định nhanh chóng, kín đáo, đồng thời có thể huy động toàn dân dễ dàng nên sự hoạt động chánh trị dễ có hiệu lực.
2- Các nhược điểm của chế độ Dân chủ xã hội
a- Chánh quyền của chế độ Dân chủ xã hội nằm trong tay của một chánh đảng duy nhứt, không nhóm nào khác hơn có thể thay thế nó được một cách bình thường. Do đó, nhà cầm quyền dễ trở thành chuyên chế và hướng đến phục vụ quyền lợi riêng mà nhân dân không sao có thể đối phó với họ được. Về pháp lý, mọi sự chống đối đều bị xem là tội phản động và bị trừng phạt nặng nề. Về thực tế, nhà cầm quyền không những nắm giữ các lực lượng hành chánh, quân sự, cảnh sát, mà còn nắm giữ luôn cả các lực lượng kinh tế trong tay nên người dân hoàn toàn bị chế ngự không sao có thể đương đầu lại chánh quyền một cách có hiệu lực. Kết quả là nhân dân luôn luôn bị thống trị không ngóc đầu lên được. Sự tranh giành quyền vị chỉ xảy ra bên trong đảng cầm quyền và sự tranh giành này thường chỉ có thể kết thúc bằng sự thanh toán lẫn nhau chớ ít khi sự thay đổi lãnh đạo được thực hiện bằng phương pháp hòa bình. Những sự thanh toán nhau như vậy một mặt làm cho một số người có khả năng bị loại trừ, một mặt làm cho đa số nhân viên chánh quyền bị kềm chế không có sáng kiến.
b- Người dân phải sống dưới một sự áp chế thường trực. Đời sống họ không có gì bảo đảm vì họ có thể bị bắt giam hay bị thanh toán lúc nào cũng được. Về mặt kinh tế, người dân của chế độ Dân chủ xã hội bị bắt buộc phải phục vụ các mục tiêu do chánh quyền ấn định và không được hưởng trọn kết quả công việc họ làm. Thiếu cái lợi cá nhân làm động lực, họ không hăng hái làm việc. Do đó, chế độ Dân chủ xã hội thường bị thất bại trong sự sản xuất kinh tế. Trong ngành công nghệ, nhà cầm quyền còn có thể dùng những cấp bực lương bổng cao thấp khác nhau và dùng giấy ban khen để khuyến khích những người làm việc nhiều, vì kết quả làm việc của mọi cá nhân có thể đánh giá được một cách tương đối dễ dàng qua số lượng sản phẩm tạo ra được hằng ngày. Do đó, nền công nghệ các nước Cộng sản còn đưa đến một số kết quả tốt. Trong ngành nông nghiệp, việc đánh giá kết quả công việc làm hằng ngày của mỗi cá nhân không thể thực hiện được. Do đó, chánh quyền Cộng sản không có biện pháp hữu hiệu để phân biệt người làm việc có hiệu lực với người không chịu làm việc hay làm việc dở để thưởng phạt một cách công bình. Đó là một trong những lý do làm cho nền nông nghiệp của các nước Cộng sản thường thất bại nặng nề.
B- ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ TỰ DO
1- Các ưu điểm của chế độ Dân chủ tự do.
a- Trong chế độ Dân chủ tự do, chánh quyền không thể bức hiếp người dân, và người dân quả có được thật sự tự do. Nếu không làm điều gì phạm luật pháp, người dân có thể tin chắc là mình không bị nhà cầm quyền làm khó hay bắt bớ giam cầm, hoặc giết hại. Mặt khác, người dân có thể hưởng trọn kết quả công việc mình làm và có quyền làm chủ các tài sản dùng vào việc sản xuất kinh tế. Do đó, người dân thường hăng hái hoạt động để tăng gia sản xuất trong mọi ngành. Bởi vậy, mặc dầu chế độ Dân chủ tự do cũng gặp một số khó khăn kinh tế, nói chung lại, các nước Dân chủ tự do đã thành công về mặt phát triển kinh tế nhiều hơn các nước Dân chủ xã hội.
b- Với sự hiện diện của nhiều chánh đảng thay nhau nắm chánh quyền qua những cuộc bầu cử, chế độ Dân chủ tự do có thể lần lượt áp dụng nhiều chánh sách khác nhau. Sự tự do tranh luận làm cho những sai lầm của một đường lối chánh trị hay một định chế có thể được nhận thức rõ rệt và được sửa chữa khi có sự thay đổi chánh quyền. Nhờ đó, chế độ Dân chủ tự do có thể cải thiện được một cách êm ái và liên tục.
2- Các nhược điểm của chế độ Dân chủ tự do.
a- Sự tự do hoạt động kinh tế và quyền tư hữu đã giúp cho một số người trong chế độ Dân chủ tự do có những tài sản lớn, trong khi đa số sống trong sự khiêm tốn. Những người có tiền của tự nhiên là được ưu đãi hơn những người nghèo, thành ra sự tự do bình đẳng mà mọi người được hưởng trên lý thuyết thật sự đã thường có lợi cho người giàu hơn cho người nghèo. Nhờ có tiền, người giàu có thể mướn nhiều luật sư giỏi chỉ dẫn cho mình về mặt pháp lý hoặc biện hộ cho mình khi kiện nhau với người khác hay bị chánh quyền truy tố. Do đó, người giàu có thể dễ thắng kiện hơn, họ cũng dễ thấy những kẻ hở của luật pháp và lợi dụng các kẽ hở đó được, trong khi người nghèo không có tiền mướn luật sư giỏi giúp mình nên dễ thua kiện và khó tránh bị lọt vào màn lưới của luật pháp. Mặt khác, người giàu có phương tiện để hưởng các quyền tự do một cách đầy đủ hơn người nghèo. Như về sự tự do đi lại chẳng hạn, người nghèo trên lý thuyết cũng có y như người giàu, nhưng vì không có tiền để di chuyển nên họ không được hưởng sự tự do đi lại đó. Trong sự xung đột giữa người giàu với người nghèo, người giàu nhờ tiền của nên thắng thế hơn người nghèo. Trong quá khứ, chế độ Tự do đã đưa đến nạn tư bản bóc lột. Chế độ Dân chủ tự do ngày nay đã cải thiện nhiều, nhưng sự chênh lệch giàu nghèo và việc người giàu được ưu đãi hơn vẫn không thể chấm dứt được.
b- Chánh quyền Dân chủ tự do gồm nhiều cơ quan khác nhau và độc lập đối với nhau nên nhà cầm quyền có thể bị ngăn trở, hoặc bắt buộc phải thảo luận thuyết phục cơ quan khác. Do đó, công việc làm thường chậm chạp, không kín đáo và nhiều khi không có hiệu lực.
c- Sự tự do quá độ có thể đưa đến những họa hại khó chấm dứt. Các nước theo chế độ Dân chủ tự do ngày nay bị một số nạn về xã hội như ma túy, khiêu dâm, ghiền ma túy… hoặc về chánh trị như việc tiết lộ các bí mật quốc gia một cách bừa bãi…và không giải quyết được các nạn ấy dễ dàng vì biên giới của quyền tự do rất khó ấn định một cách rõ rệt, nhứt là vì sự tranh luận về biên giới đó không lúc nào chấm dứt được.
III- CĂN BẢN CỦA HAI DỊ BIỆT GIỮA HAI QUAN NIỆM DÂN CHỦ XÃ HỘI VÀ DÂN CHỦ TỰ DO:
Đi sâu hơn vào bản chất của sự dị biệt giữa hai quan niệm Dân chủ xã hội và Dân chủ tự do, ta có thể nhận thấy rằng sự dị biệt này phát xuất tự sự dị biệt giữa hai nguyên tắc làm gốc cho tư tưởng Dân chủ là “tự do” và “bình đẳng”. Nói chung thì cả hai quan niệm Dân chủ tự do và Dân chủ xã hội đều lấy hai nguyên tắc Tự do và Bình đẳng làm gốc, nhưng hai nguyên tắc ấy không phải lúc nào cũng tác động theo một chiều hướng với nhau, và quan niệm Dân chủ tự do đã nghiêng về Tự do nhiều hơn trong khi quan niệm Dân chủ xã hội thì nghiêng về Bình đẳng nhiều hơn.
A – SỰ HÒA HỢP NHAU GIỮA HAI NGUYÊN TẮC TỰ DO VÀ BÌNH ĐẲNG
Sở dĩ các nhà lý thuyết theo tư tưởng Dân chủ đã ghép Tự do và Bình đẳng chung nhau vì hai nguyên tắc ấy đã có sự hòa hợp nhau trong quá khứ. Khi nghiên cứu về các luồng tư tưởng Tự do và Xã hội, chúng ta đã nhận thấy rằng cuộc tranh đấu chống lại chế độ nô lệ bắt nguồn từ hai ý niệm Tự do và Bình đẳng hỗn hợp vào nhau. Vì cho rằng con người sinh ra ai cũng như ai nên những người chủ trương hủy bỏ chế độ nô lệ không thể chấp nhận được việc người này giữ người khác trong địa vị tù hãm và thấp kém. Mặt khác, trong sự tiến triển của xã hội Tây phương, chúng ta có thể nhận thấy rằng lý tưởng Tự do và lý tưởng Bình đẳng phát triển theo một chiều hướng chung về mặt chánh trị. Các chế độ Quân chủ Âu châu xây dựng sự phân chia giai cấp và quyền chuyên chế của vua. Lúc chế độ Tự do mới bắt đầu được xây dựng, chỉ có một số ít người trong nam giới thuộc hạng quý tộc, trí thức và hào phú mới được tham dự chánh quyền qua việc bầu cử và tranh cử, nhưng mọi người đều được hưởng các tự do căn bản mà những người không được quyền bầu cử và tranh cử mới dễ dàng tranh đấu để đòi được các quyền chánh trị đó và cuối cùng, các nước theo chế độ Dân chủ tự do đã phải chấp nhận chế độ phổ thông đầu phiếu cho nam giới, rồi kế đó, cho cả phụ nữ. Vậy, sự tự do chánh trị đã giúp người thực hiện sự bình đẳng chánh trị.
B- SỰ ĐỐI CHỌI NHAU GIỮA HAI NGUYÊN TẮC TỰ DO VÀ BÌNH ĐẲNG
Nhưng kinh nghiệm của các nước Tây phương theo chế độ Dân chủ tự do cũng cho ta thấy rằng hai nguyên tắc Tự do và Bình đẳng cũng có thể đi về hai chiều hướng trái ngược nhau. Trong thực tế, con người sinh ra mạnh yếu, khôn dại, giỏi dở khác nhau. Bởi đó, nếu cho người được tự do hoạt động thì người mạnh tất nhiên phải hơn người yếu, người khôn hơn người dại, người giỏi hơn người dở. Dầu cho lúc khởi hành, mọi người đều ở vào một vị trí như nhau với những điều kiện sinh hoạt như nhau, cuối cùng rồi cũng có sự cao thấp khác nhau. Muốn cho mọi người ở vào một địa vị như nhau thì phải kềm chế người mạnh, người khôn, người giỏi để cho người yếu, người dại, người dở tiến lên bằng họ, nhưng như vậy thì không ai còn tự do nữa.
Sự đối chọi nhau giữa hai nguyên tắc Tự do và Bình đẳng đã biểu lộ rõ rệt trong lãnh vực hoạt động kinh tế. Chế độ Dân chủ tự do đã để cho người tự do hoạt động, và kết quả là sự chênh lệch giàu nghèo đưa đến chế độ Tư bản và sự bóc lột người Vô sản. Chính vì muốn chấm dứt sự bất bình đẳng kinh tế phát xuất từ chế độ Dân chủ tự do mà những người theo quan niệm Dân chủ xã hội chủ trương hủy diệt quyền tư hữu trên các dụng cụ sản xuất và thực hiện xã hội Cộng sản trong đó không còn hạng Tư bản làm chủ phương tiện sản xuất và Vô sản làm công cho Tư bản. Nhưng khi tất cả các phương tiện sản xuất đều bị Quốc hữu hóa, tất cả mọi người trong xã hội đều phải tùy thuộc chánh quyền trong việc sinh sống. Người chống đối chánh quyền và không được chánh quyền dùng không thể nào tìm được việc làm để sinh sống bình thường. Do đó, mọi người đều bị chánh quyền kềm chế chặt chẽ và mất hết tự do. Chế độ Cộng sản sở dĩ khắc nghiệt hơn các chế độ chuyên chế khác ngay cả các chế độ toàn diện hữu phái, chính vì nó nắm giữ cả độ quyền về kinh tế, trong khi các chế độ chuyên chế khác chỉ nắm độc quyền về chánh trị, hành chánh, cảnh sát, quân sự mà thôi.
C- KẾT QUẢ TỐI HẬU CỦA SỰ CHỌN LỰA GIỮA TỰ DO VÀ BÌNH ĐẲNG
Sự phân tích trên đây cho ta thấy rằng sự dị biệt và xung khắc giữa hai quan niệm Dân chủ tự do và Dân chủ xã hội chung quy chỉ là sự dị biệt và xung khắc giữa hai nguyên tắc Tự do và Bình đẳng, nhứt là về mặt kinh tế. Muốn bảo đảm sự tự do của người, chế độ Dân chủ tự do bảo vệ quyền tư hữu trên phương tiện sản xuất. Trong thực tế chính nhờ quyền tư hữu trên phương tiện sản xuất mà người chống đối chánh quyền có thể tiếp tục sống một cách bình thường và tranh đấu để thay thế nhà cầm quyền. Nhưng việc bảo vệ quyền tư hữu trên phương tiện sản xuất đã đưa đến sự bất bình đẳng về kinh tế và nạn bóc lột. Để chấm dứt sự bất bình đẳng đó, quan niệm Dân chủ xã hội hủy diệt quyền tư hữu trên phương tiện sản xuất, nhưng điều này đưa đến việc làm cho người mất hết tự do. Như thế, mặc dầu về lý thuyết, cả hai quan niệm Dân chủ tự do và Dân chủ xã hội đều nói đến Tự do và Bình đẳng, thật sự thì Dân chủ tự do đã dựa vào Tự do nhiều hơn, còn Dân chủ xã hội dựa vào Bình đẳng nhiều hơn.
Tuy là một bên nghiên về Tự do, một bên nghiêng về Bình đẳng, hai quan niệm Dân chủ tự do và Dân chủ xã hội không phải đều có giá trị như nhau vì nó đã đưa đến những kết quả tốt xấu hoàn toàn khác nhau xét dưới khía cạnh lý tưởng Tự do và Bình đẳng. Chế độ Dân chủ tự do nghiêng về việc bảo vệ tự do vì đó mà nó đưa đến sự bất bình đẳng. Tuy nhiên chính nhờ sự tự do cho phép người dân tự vệ được đối với chánh quyền nên một số sai lầm của chế độ Tự do đã được sửa chữa lại lần lần và cuối cùng sự bất bình đẳng đã giảm bớt. Hiện nay, sự chênh lệch giàu nghèo vẫn còn, nhưng Tư bản không bóc lột được Vô sản thái quá như trước và chế độ an ninh xã hội cũng như phép đánh thuế của các xã hội Tự do có làm cho sự bất bình đẳng dịu bớt.
Quan niệm Dân chủ xã hội chủ trương thực hiện sự bình đẳng kinh tế bằng chế độ Cộng sản. Chế độ này làm cho người mất tự do và chính vì sự mất tự do mà người trong chế độ Cộng sản không tranh đấu được để bảo vệ quyền lợi mình. Kết quả là đảng Cộng sản đã để cho lãnh tụ, các cán bộ và các Đảng viên của mình hưởng nhiều đặc quyền mà nhân dân không sao có thể chấm dứt được việc đó.
Vậy, chế độ Dân chủ tự do đã duy trì được sự Tự do, đồng thời làm dịu bớt sự bất bình đẳng, trong khi chế độ Dân chủ xã hội hủy diệt sự Tự do rồi làm xuất hiện sự bất bình đẳng thành ra cuối cùng, trong xã hội Dân chủ tự do, Tự do và Bình đẳng đều còn duy trì được, còn trong xã hội Dân chủ xã hội, Tự do và Bình đẳng đều bị mất cả.
Đối lập chính trị
I – ĐỊNH NGHĨA VÀ CÁC QUAN NIỆM VỀ ĐỐI LẬP
Nói đến Dân chủ là chúng ta nghĩ ngay đến vấn đề đối lập, mà đối lập là gì? và được quan niệm như thế nào?
A – ĐỊNH NGHĨA
Chúng ta đã dùng nhiều danh từ đối lập. Mà đối lập là gì? Thế nào là đối lập? Đứng về phương diện lịch sử mà suy xét, đối lập phát sinh ở sự thực hành chính trị và liên quan đến lịch trình biến chuyển của chế độ Đại nghị. Nói đến đối lập tức là nói đến cái gì ở ngoài đa số, ngoài chính phủ. Đối lập là khía cạnh nghị viên của vấn đề. Ý niệm đối lập cần phải được phân tích rõ ràng hơn nữa để phân biệt nó với những hiện tượng tương tự. Đối lập có ba đặc điểm? Một sự bất đồng về chính trị, có tánh cách tập thể và có tính cách hợp pháp.
1- Trước nhất, đối lập phải là một sự bất đồng về chánh trị. Hiện tượng đối lập chỉ có, khi nào những kẻ chống đối có thể tổng hợp lại tất cả những vấn đề được đặt ra, đưa những vấn đề ấy lên một mực độ đại cương và phán đoán theo một tiêu chuẩn chính trị. Có thể có một số đông người dân chận đường chận xá để phản đối một chính sách của chính phủ, có thể có một số đông sinh viên, một đoàn thể văn hóa hay tôn giáo biểu tình đòi hỏi những cái gì. Đành rằng những sự kiện ấy có thể có hậu quả chính trị, nhưng đó không phải là đối lập. Đó chỉ là một sự khước từ, kháng cự hay phản đối. Hiện tượng đối lập chỉ có, khi nào sự khước từ ấy, sự kháng cự ấy, sự phản đối ấy được chính trị hóa.
2- Là một sự bất đồng về chính kiến. Đối lập phải có tính cách tập thể. Trong bất cứ lúc nào, luôn luôn có những người bất đồng chính kiến với chính quyền. Có thể có một thiểu số đông anh em, thỉnh thoảng họp nhau, rồi trong lúc trà dư tửu hậu, bàn quốc sự, có một thái độ chống đối đường lối, chủ trương của chính phủ. Đó là những kẻ chống đối, những cá nhân đối lập. Và những kẻ chống đối ấy có thể có trong chính thể Độc tài, Cộng sản. Đó không phải là đối lập.
Đối lập chỉ có khi nào sự bất đồng chính kiến ấy có tính cách tập thể, khi nào nó là kết quả biểu hiện một sự hành động có tổ chức của những kẻ chống đối. Nói đến sự hành động có tổ chức là nghĩ ngay đến chính đảng. Chỉ có đối lập khi nào có một chính đảng đối lập.
3- Là một sự bất đồng về chính kiến có tính cách tập thể, đối lập phải hợp pháp nữa. Có thể vì một lý do gì mà một đoàn thể phải dùng võ lực chống lại chính quyền. Có thể vì một lý do gì mà một chính đảng phải hoạt động âm thầm trong bóng tối. Những hành động ấy, đành rằng nó có tính cách tập thể và kết quả của một sự bất đồng chính kiến, không được xem là đối lập. Những hành động ấy chỉ được xem là những cuộc âm mưu phiến loạn hay kháng chiến, nó không còn là đối lập nữa. Vì đối lập chỉ hoạt động trong vòng pháp luật.
B- CÁC QUAN NIỆM VỀ ĐỐI LẬP
Một khi đã ý thức được danh từ “đối lập” và nhận đinh tầm quan trọng của nó trong cuộc sinh hoạt chính trị, vấn đề then chốt được đặt ra là xác định vị trí của đối lập trong các chính thể. Nếu tinh túy của dân chủ là lòng độ lượng, khoan dung và tự do chính trị, thì lẽ tất nhiên lòng độ lượng, khoan dung và tự do chính trị, qua những quyền của đối lập và sự hiện diện của đối lập chỉ là kết quả của sự thừa nhận tự do chính trị. Đối lập chỉ có giá trị và hiệu quả trong một chế độ mà triết học chính trị là Dân chủ tự do. Vì đối lập dựa trên tinh thần khoan dung, trên sự chính đáng của bất đồng chính kiến. Vì thừa nhận tính cách tương đối của chân lý chính trị.
Một quan niệm đối lập như thế, dựa trên Chủ nghĩa tự do, Chính thể độc tài không thể chấp nhận được. Trong chính thể này, chính quyền là tất cả, còn đối lập chẳng những vô ích mà còn nguy hiểm nữa. Vô ích vì những nhà độc tài luôn cho rằng ý thức hệ của mình là bất di bất dịch và vai trò của cơ quan công quyền không phải tìm lấy một ý chí đi sát với nguyện vọng của quốc gia mà trái lại chỉ có nhiệm vụ áp dụng mệnh lệnh của chánh đảng nắm quyền lãnh đạo. Chẳng những vô ích, đối lập còn nguy hiểm nữa. Nguy hiểm cho sự thực hiện nguyện vọng của quần chúng, vì hành động của đối lập phân ly quần chúng. Bởi thế, đối lập cần phải được thanh trừng và những cái mà người ta gọi là Dân chủ, quyền tự do công cộng, những lợi khí mà đối lập dùng để hoạt động, lợi khí ấy cần phải được cấm nhặt.
Bị khước từ bởi những chính thể Độc tài, đối lập chỉ được thừa nhận trong chính thể Dân chủ, chẳng những trên bình diện triết lý chính trị, đối lập còn được chứng minh qua khía cạnh cuộc điều hành thực tiễn, của định chế. Chính sự hiện diện của đối lập phản ảnh tính cách chân chính của ý chí quốc gia. Trong những chế độ mệnh danh là “nhất tề – nhất trí”, trong những cheê độ mà người ta chỉ nghe 99 phần trăm, đành rằng không phải không thể có được, nhưng sự vắng mặt của đối lập làm cho người ta lắm lúc phải hoài nghi. Chỉ trên bình diện thực tại, vai trò của đối lập chứng tỏ rằng, mặc dù bị loại ngoài hệ thống chính quyền, đối lập cần có mặt và phát biểu.
Một quan niệm quá ư rộng rãi về Dân chủ, lẽ tất nhiên – dựa trên một sự đối lập chân thành, xây dựng. Nhưng ý niệm đối lập ngày nay quá biến chuyển. Một hiện tượng mới đã xảy ra, một đối lập, không phải trong chính thể, mà chống chính thể Dân chủ, một sự đối lập hoàn toàn phủ nhận nguyên tắc Dân chủ, một sự đối lập về ý thức hệ. Tất cả vấn đề là thử hỏi, trước một sự đối lập như thế, thái độ của chính thể Dân chủ phải như thế nào. Một vấn đề hết sức phức tạp, tế nhị và trên bình diện quốc tế, những giải pháp bảo vệ chính thể Dân chủ tùy thuộc hoàn cảnh thực tại chính trị của mỗi nước.
Dù sao, để trở lại vấn đề đối lập trong chính thể Dân chủ, không ai có thể chối cãi tính cách chính đáng của sự hiện diện của đối lập. Nhưng đối lập, chẳng những phải có mặt mà còn phải có thể phát biểu nữa. Mà đối lập phát biểu để làm gì và hành động của đối lập sẽ có tác dụng gì trong guồng máy chính trị quốc gia? Và theo thủ tục nào, dưới hình thức nào, với những bảo đảm nào, đối lập có thể mạnh dạn và thành thực phát biểu ý kiến?
Đó là hai vấn đề cực kỳ quan trọng, vấn đề vai trò của đối lập và vấn đề quy chế của đối lập, hai vấn đề căn bản mà chính thể Dân chủ cần phải giải quyết một cách phân minh để ổn định cuộc sinh hoạt chính trị và để đối lập làm tròn sứ mạng của nó.
II- VAI TRÒ CỦA ĐỐI LẬP
Trong chính thể Dân chủ thật sự, hiện diện của đối lập là một điều hết sức chánh đáng. Chính đáng vì thừa nhận đối lập tức là thừa nhận tự do chính trị. Chẳng những chính đáng, đối lập lại còn cần thiết nữa. Cần thiết cho phẩm tính của đa số của chính quyền. Cần thiết cho phẩm tính của đa số của chính quyền. Cần thiết cho phẩm tính, đối lập còn cần thiết cho sự hiện hữu của chính quyền nữa. Trong cuộc sinh hoạt chính trị ổn định. Đa số ở đâu ra, chính quyền hiện tại ở đâu ra, nếu không phải là kết tinh của sự tranh chấp với đối lập? Trên khía cạnh này, đối lập đóng vai trò căn bản, vai trò hợp tác với chính quyền, đó là hai khía cạnh của vai trò đối lập.
A- VAI TRÒ HẠN CHẾ VÀ KIỂM SOÁT CHÍNH QUYỀN
1- Hạn chế và kiểm soát chính quyền. Đó là một trong những hoạt động cốt yếu của đối lập ở bất cứ lúc nào trong cuộc sinh hoạt chính trị. Trước hết, ở giai đoạn tuyển cử Đối lập có mặt, có thể phát biểu ý kiến, đối lập có quyền phủ nhận làm cho chính quyền bỏ bới thái độ cứng rắn, những chương trình mỵ dân, những hứa hẹn hão huyền. Đối lập chận đứng lại những tư tưởng hẹp hòi, những quan điểm thiển cận, tư tưởng và quan điểm không phải của một chính phủ quốc gia mà hoàn toàn lệ thuộc vào mệnh lệnh của đảng phái.
2- Đối lập bảo đảm tính cách đích xác công khai của những quyết định của nhà nước. Thật vậy, khi mà chúng ta nói đến ý chí của toàn dân, ý chí của quốc gia, cần phải nhận định rằng đó chỉ là ý chí của đa số. Ý chí của đa số là ý chí của quốc gia, cái phương trình ấy chỉ có giá trị khi nào quyết định của đa số được chấp thuận trong một bầu không khí cởi mở, sáng tỏ và tự do. Chính đối lập bảo đảm tính cách đích xác của quyết định của đa số và bắt buộc đa số nắm chính quyền phải tham dự một cuộc tranh luận công khai. Vẫn biết rằng, trong chế độ Tổng Thống hay trong chế độ Đại nghị mà chính phủ có đa số ở Quốc Hội, đối lập không thể ngăn cản chính quyền hành động theo ý của họ. Nhưng, tự do chỉ trích, đối lập bắt buộc địch thủ phải tiết lộ dự định của họ. Và như thế, đối lập bảo đảm rằng, khi một biện pháp hay chính sách được chấp thuận, những lý lẽ chống đối hay binh vực biện pháp, chính sách ấy, đều được công khai đưa ra dư luận.Vai trò hạn chế và kiểm soát chính quyền, đối lập đảm đương một cách thiết thực hơn nữa trên diễn đàn Quốc Hội.
3- Với phương tiện nào đối lập đóng vai trò của nó trên bình diện nghị viện? Đành rằng cơ cấu chính phủ nước này không giống nước kia, nhưng trong bất cứ chính thể Dân chủ nào, người ta cũng tìm thấy từng ấy phương tiện cho phép đối lập phát biểu công khai ý kiến của họ. Trong những lúc bàn cãi và biểu quyết ngân sách quốc gia, sự hiện hữu của đối lập bắt buộc chính quyền bỏ hẳn chương trình mỵ dân, thái độ cứng rắn, và nhứt là chính quyền hết sứ dè dặt khi bắt buộc toàn dân phải hy sinh quá độ. Cuộc đối thoại giữa chính phủ và Quốc Hội – chung quy giữa chính quyền và đối lập – qua những buổi tranh luận, những câu hỏi, những cuộc tiếp xúc với ủy ban hay giữa phiên họp công khai là những dịp mà các vị Dân biểu đối lập nói lên những lạm dụng của cơ quan hành chánh, hay nhận được – qua cuộc trình bày của các vị Bộ trưởng – tin tức về một vấn đề nhất định hay câu trả lời đích xác. Vai trò hạn chế và kiểm soát chính quyền được biểu hiện một cách thiết thực nữa qua nguyên tắc trách nhiệm chính trị. Chúng ta biết rằng trong chế độ Đại nghị, chính phủ bắt buộc phải từ chức khi đa số ở Quốc Hội biểu quyết chống chính phủ. Yếu điểm này sẽ là một ảo mộng nếu không có một đối lập thực sự.
Vậy qua từng giai đoạn của sự khởi thảo chương trình và trong hành động hằng ngày, chính quyền luôn luôn để ý đến lập trường của đối lập, tự kiểm soát lấy mình và trong việc ấn định kế hoạch quốc gia, lắm lúc phải nhận lấy chủ trương của đối lập. Thái độ này không nhằm làm vui lòng đối lập, mà cho toàn dân vì để ý đến lập trường của đối lập trong việc xác định đường lối chính trị, chính quyền hướng về nguyện vọng của quốc gia.
4- Hạn chế và kiểm soát chính quyền. Vai trò tối quan trọng này, không phải đối lập luôn luông đảm đương với tất cả hiệu quả thật sự. Không, vấn đề không phải ở chỗ đó. Vấn đề là ở khía cạnh tâm lý của toàn dân. Vấn đề là mỗi công dân có thể chắc chắn rằng, ngoài Quốc Hội hay trên diễn đàn Quốc Hội, có những người đại diện có thể phát biểu ý kiến của mình, không phải theo đường lối của chính quyền mà khác hẳn chính quyền. Và dù rằng ý kiến đó không được chấp thuận đi nữa, họ có cảm giác rằng sự kiện ấy do nơi quyền lợi tối cao của quốc gia, chứ không phải vì tính thị hiếu nhất thời, chuyên chế. Cần phải nhận định rằng, đối lập không những là tượng trưng cho một khuynh hướng chính trị, đối lập còn có giá trị tự bản chất nó nữa. Vì chỉ có đối lập và bởi đối lập mà việc kiểm soát của toàn dân mới có tính cách chân thành và hiệu lực trong một chế độ thương nghị, không những hạn chế, kiểm soát chính quyền, đối lập còn cộng tác với chính quyền nữa.
B- VAI TRÒ CỘNG TÁC VỚI CHÍNH QUYỀN
Cho rằng đối lập cộng tác với chính quyền, đó là một khẳng định có hơi mâu thuẫn. Tuy nhiên chính đó là khía cạnh tích cực của vai trò đối lập. Và chúng ta có thể quả quyết rằng cái lợi của chính quyền là dung túng đối lập.
1- Qua những cuộc tranh luận trong một bầu không khí cởi mở, những ý tưởng khích động tinh thần, những định kiến bớt phần cứng rắn, những ý kiến được chọn lọc và uy quyền sáng tỏ. Bất cứ một chính quyền nào cũng có khuynh hướng tự giam mình trong tình trạng cô đơn, chỉ nghe lời của đồng chí và lấy quyết định phù hợp với ảo vọng hoang đường qua những nhận xét riêng biệt của mình về thời cuộc. Đối lập có mặt, nhắc lại cho đoàn thể ở chính quyền tính cách phức tạp của thực tại chính trị, đem lại những màu sắc chính trị và đôi khi phản kháng lại những truyền tin báo cáo đơn phương của chính phủ. Qua những hành vi tích cực ấy, chính quyền thâu lượm được những dấu hiệu quý giá về tình trạng tinh thần của dư luận. Chẳng những trong lãnh vực thông tin, vai trò cộng tác với chính quyền của đối lập nổi bật lên nữa qua khía cạnh nghị viện.
2- Tất cả những công việc thuộc về thiết lập chương trình nghị sự, về những vấn đề cần phải được thảo luận, những dự án ưu tiên, những cuộc tiếp xúc…, tóm lại, vấn đề liên hệ đến việc tổ chức công tác Quốc Hội, sự thỏa thuận giữa đối lập và chính quyền là điều kiện cốt yếu của một tình trạng chính trị ổn định. Và lịch sử đã chứng minh rằng, trong những trường hợp đặc biệt, trong những trường hợp khẩn cấp, tối cần, trong những trường hợp mà sinh tồn của quốc gia được đặt ra, trong những trường hợp ấy, lịch sử đã chứng minh rằng đối lập từ khước độc lập và lắm lúc lại ủng hộ chính quyền để bảo vệ uy thế của chính quyền lúc phải đương đầu với mọi cuộc ngoại xâm.
3- Hướng dẫn chính quyền tham gia vào cuộc điều hành công tác Quốc Hội, một sự đối lập có tổ chức, có hệ thống đóng một vai trò cực kỳ quan trọng là chủ trương một chính sách để thay thế cho chính sách chính quyền. Cần phải nhấn mạnh đặc điểm này. Trong những xứ mà tình trạng chính trị chưa ổn định, trong những xứ mà đối lập vắng mặt, người ta luôn luôn lo ngại cho tương lai chính trị quốc gia. Ai sẽ thay thế nhà lãnh tụ hôm nay? Viễn tượng những cuộc cách mạng đẫm máu, những cuộc chính biến, viễn tượng những gián đoạn chính trị đầy hậu quả làm cho cuộc sinh hoạt chính trị kém phần tích cực. Đối lập, trong chính thể Dân chủ, cho phép Quốc gia xoay chiền, đổi hướng trong khung cảnh của định chế và không tổn thương đến sự liên tục của cuộc sinh hoạt chính trị. Đối lập là Chính phủ của ngày mai, đối lập tượng trưng sự tin tưởng vào định chế quốc gia, đối lập duy trì sự liên tục của chính quyền.
Một sự đối lập hữu hiệu là một lực lượng tích cực. Cần phải nhận định rằng đối lập không phải là lực lượng luôn luôn chống đối chính quyền. Đối lập và chính quyền là hai yếu tố căn bản của thế quân bình chính trị trong chính thể Dân chủ.
Hạn chế và kiểm soát chính quyền, cộng tác với chính quyền, một khi đã hiểu như thế, vai trò của đối lập, vấn đề được đặt ra bây giờ là thử hỏi trong điều kiện nào đối lập có thể làm tròn sứ mạng của nó, trong một bầu không khí khoan dung, khi mà một số quyền hạn của đối lập được xem là bất khả xâm phạm và đồng thời thông suốt nhiệm vụ của mình. Kê khai những quyền hạn ấy, ấn định nghĩa vụ của đối lập, tức là bàn đến vấn đề quy chế của đối lập.
III- QUY CHẾ CỦA ĐỐI LẬP
Vấn đề ấn định qui chế của đối lập tùy thuộc mỗi quan niệm riêng về đối lập. Nếu đối lập chỉ được xem là một quyền đối lập, nó chỉ là hậu quả tất nhiên của thể chế chính trị Dân chủ tự do. Đối lập tức là có quyền xử dụng tất cả những tự do hợp pháp. Trái lại, nếu đối lập được đưa lên hàng một chức vụ rất cần thiết cũng như chính quyền, nếu đối lập được xem không phải là một việc bất đắc dĩ, mà là một liều thuốc kích thích chính quyền, thì theo quan niệm này, quy chế chẳng những bảo đảm tự do của đối lập mà còn chú ý tới công hiệu của nó nữa. Tổ chức đối lập, định chế hóa đối lập đó là quan niệm thứ hai của đối lập.
Nhưng dù có được định chế hóa hay không, đối lập để có thể đảm đương vai trò chủ yếu của nó, phải là một đối lập tự do và xây dựng. Nói đến đối lập tự do là phải nghĩ ngay đến quyền hạn của nó; nói đến đối lập xây dựng là nghĩ đến ngay nghĩa vụ của nó.
A- MỘT TRONG NHỮNG QUYỀN HẠN CỦA ĐỐI LẬP
1- Là quyền không thể bị tiêu diệt. Vì đối lập luôn luôn là một chướng ngại, chính quyền hay có khuynh hướng thừa một cơ hội nào đó, tẩy trừ phần tử rối loạn ấy đi. Vẫn biết rằng, có những lúc, những giờ phút nguy nan, đối lập hoặc tự mình, hoặc thỏa thuận với chính quyền, ngưng hẳn những phê bình hay chỉ trích. Nhưng đó chỉ là im hơi, lặng tiếng; chớ quyền sinh tồn vẫn là quyền tối cao của đối lập. Tiêu diệt đối lập tức là dọn đường cho Chủ nghĩa độc tài. Đối thoại trở thành độc thoại.
2- Quyền thứ hai của đối lập là quyền phát biểu. Và quyền phát biểu này được thể hiện bởi những cái mà người ta gọi là tự do công cộng. Số phận của đối lập sẽ ra sao nếu đối lập không tự do có ý kiến khác hẳn ý kiến chính quyền, và tự do phát biểu ý kiến ấy trên báo chí và sách vở? Nếu đối lập không được tự do hội họp? Chỉ có đối lập thật sự trong một chế độ mà các tự do này được ấn định và chế tài một cách hợp lý.
Chúng ta có nói rằng thừa nhận đối lập tức là thừa nhận tính cách tương đối của chân lý chánh trị Dân chủ. Tính cách tương đối này được thể hiện qua sự tự do tuyển cử. Tự do tuyển cử tức là tự do trình ứng cử viên, tự do cổ động và nhất là sự bảo đảm tính cách chân thành của kết quả cuộc bầu cử.
Trên bình diện đại nghị, đối lập cầm phải được đặc biệt bảo vệ. Trường hợp Dân biểu đối lập bị bắt bớ hay tống giam không phải là những trường hợp hiếm có. Vì thế mà quyền bất khả xâm phạm của Dân biểu là một thực tại.
Những quyền hạn mà chúng tôi đã sơ lược kê khai không phải chỉ dành riêng cho đối lập. Đó là quyền bảo vệ tất cả công dân trong chính thể Dân chủ. Nhưng phải thành thật mà nhận định rằng tự do phát biểu, tự do tuyển cử, quyền bất khả xâm phạm v.v…là những điều kiện quý giá cho đối lập luôn luôn bị chính quyền đe dọa.
Đó là điều kiện tối thiểu. Một quan niệm cấp tiến đã đi đến chỗ định chế hóa đối lập, đối lập trở thành một thực thể có hiến tính. Đó là trường hợp của Anh quốc vậy.
Ở nước Anh, đối lập có một tước vị chính thức “đối lập của Nữ hoàng”. Và đối lập của Nữ hoàng có cả chính phủ riêng của họ, một nội các bóng trong Hạ nghị viện. Vị lãnh tụ đối lập của Nữ hoàng là một nhân vật cao cấp đầy uy thế, luôn luôn được mời đến cùng vị Thủ tướng tham dự những buổi lễ chính thức và luôn luôn được tham khảo ý kiến về những vấn đề chính trị trọng đại. Và xin nhắc lại một điều rất lý thú là “nhà nước lại phải trả lương cho vị lãnh tụ đối lập”.
Nhưng dù sao, định chế hóa hay không, quyền sinh tồn và những điều kiện thuận tiện để tự do phát biểu, chỉ có ý nghĩa khi nào đối lập tin tưởng có quyền nắm lấy chính quyền. Chính sự bình đẳng trong vận hội ấy làm cho cuộc sinh hoạt chính trị thêm phần phấn khởi.
Đối lập có vài quyền hạn để đảm đương vai trò của nó. Nhưng đối lập không phải chỉ có quyền. Một số nghĩa vụ hạn chế hoạt động của đối lập, nghĩa vụ nhằm mục tiêu tôn trọng tinh thần Dân chủ.
B- NHỮNG NGHĨA VỤ CỦA ĐỐI LẬP
Một trong những nghĩa vụ của đối lập là thừa nhận quy luật đa số.Những ai quan tâm đến cuộc bầu cử đều rõ rằng có thể xảy ra trường hợp mà vị Tổng thống đắc cử hay một chính đảng chiếm đa số ở Quốc Hội trong lúc phiếu của mình lại kém địch thủ thất bại. Nhưng đó chỉ là hậu quả kỷ thuật của luật tuyển cử. Và công lý là một chuyện, mà hợp pháp là một chuyện khác nữa. Trường chính trị là một cuộc tranh đấu công nhận quy luật đa số, tức là thẳng thắn tham gia cuộc đấu tranh bởi đó là luật lệ của nguyên tắc dân chủ.
Nghĩa vụ thứ hai của đối lập là hoạt động một cách ôn hòa xây dựng và có tinh thần trách nhiệm. Những chỉ trích vớ vẩn, những vu khống không có căn bản chính trị của những kẻ tự cho là chính khách, những phê bình chỉ đem lại hoài nghi và bất mãn, đó là những tệ đoan của sự đối lập không xứng đáng với danh hiệu của nó. Vì đâu lại có một hiện tượng bất thường như thế? Ngoài tham vọng cá nhân, hiện tượng này phát sinh từ một hệ thống chính đảng nhất định và liên quan đến khía cạnh ý thức hệ của một vài chính đảng.
Trong một xứ, một hệ thống đa đảng là một thực tại chính trịc, khi mà không một chính đảng nào chiếm đa số hay ưu thế trên sân khấu chính trị, Chính phủ luôn luôn là một Chính phủ liên hiệp. Mà liên hiệp tức là tập hợp những khuynh hướng mâu thuẫn, dung hòa những chính sách tương phản. Chính cái viễn tượng không bao giờ tự mình chiếm được hoàn toàn quyền và thực hiện những chương trình hứa hẹn làm cho chính đảng thiếu ý thức xây dựng và tinh thần trách nhiệm. Tính cách rời rạc và chia rẽ của đối lập, chỉ biết phá hoại biến đổi hẳn mối tương quan truyền thống giữa đa số và thiểu số. Đối lập không còn là đối lập ngoài và chống chính phủ, đối lập ở đây là đối lập trong chính phủ.
Chẳng những thế, khía cạnh ý thức của một vài chính đảng là nguyên do thứ nhì của sự thiếu tinh thần xây dựng. Đối lập chỉ có nghĩa trong một khung cảnh chính trị nhất định. Nếu chúng ta đồng ý về một nguyên tắc căn bản, nếu chúng ta thừa nhận chủ quyền nhân dân, nguyên tắc phân quyền, tự do chính trị, nếu chúng ta không tôn trọng nhân vị, sự độc lập của Thẩm phán hay quyền tự do phát biểu, thì cuộc tranh chấp chính trị chỉ nằm trên lãnh vực thực tiễn qua những nguyên tắc thứ yếu. Trái lại, nếu đối lập nhằm chống lại, không phải một khuynh hướng chính trị hay một chính sách nhất định, mà chính cả nền tảng của xã hội, nghĩa là chống cả chính thể, thì khẳng định rằng đối lập là chính phủ tương lai không còn giá trị nữa. Vì đặc tính của đối lập về ý thức hệ là chiếm chính quyền để rồi thủ tiêu quyền đối lập.
Trong một tình trạng như thế, trước tình trạng mà đối lập không thi hành nghĩa vụ của nó, những quyền hạn không còn lý do tồn tại nữa. Và “Chính thể dân chủ” cần phải có những biện pháp thích nghi để đối phó. Sa thải những phần tử bất chính trong hành chính, bắt buộc đối lập phải có một chương trình và có năng lực nắm chính quyền trước khi lật đổ chính phủ, sửa đổi luật bầu cử, đặt ngoài vòng pháp luật những chính đảng quá khích, đó là một vài ví dụ cụ thể về biện pháp được áp dụng để bảo vệ Chính thể dân chủ.
IV- ĐỐI LẬP TRONG CÁC QUỐC GIA CHẬM TIẾN:
Phác họa như thế, vai trò và “quy chế đối lập” trong “chính thể dân chủ” qua sự biến chuyển của ý niệm trong xã hội cận đại, chúng ta không khỏi tự nhủ rằng đó là lý tưởng. Và tự hỏi rằng lý tưởng ấy có phù hợp với những quốc gia trên đường phát triển, với hiện tình những nước vừa thu hồi độc lập.
Thực tại chính trị cho chúng ta biết rằng, đối lập nếu không hoàn toàn vắng mặt, thì chỉ được dung túng một phần nào, một phần nhỏ nào, trong những nước mới này, những nước mệnh danh là Dân chủ và đồng thời cũng được xem là những chính thể không độc tài. Tại sao lại có một sự kiện oái ăm như thế.
Lý do thứ nhất mà người ta đưa ra là sự đe dọa trầm trọng của độc tài Cộng sản. Những nước mới này, là những nước bị nạn Cộng sản đe dọa và có nước đang chiến đấu một mất một còn với Cộng sản. Dung túng đối lập tức là cho Cộng sản cơ hội núp sau lá cờ đối lập để phá hoại nền dân chủ. Đối lập Cộng sản là đối lập về ý thức hệ, và chúng ta biết rằng đối lập về ý thức hệ là đối lập chống chính thể Dân chủ.
Lý do thứ hai là trình độ giáo dục của quần chúng. Người ta cho rằng dân chúng chưa có một trình độ giáo dục về chính trị khá đầy đủ để cho có thể xử dụng một cách hoàn hảo những quyền tự do công cộng. Và như thế, đối lập chỉ có hại vì nó sẽ là bức bình phong của những tham vọng cá nhân của những kẻ không cơ sở chính trị chỉ dựa trên cuộc chính đồ sinh hoạt. Hơn nữa, thì giờ gấp rút, nâng cao mực sống của toàn dân là một việc tối cần, lúc kiến quốc không phải lúc bàn cãi, phê bình hay chỉ trích.
Những lý do mà chúng ta vừa nêu ra rất là chính đáng. Nhưng chính đáng không có nghĩa là phải chấp nhận. Trong lãnh vực chính trị và xã hội, sự hoàn hảo của một định chế chính trị là kết quả của kinh nghiệm. Làm sao hy vọng một nhận thức khá cao của quần chúng, nếu hôm nay không có học tập hướng về Dân chủ? Không phải nhất thiết áp dụng tất cả những gì đã có hay đang có ở Tây phương. Thực tại chính trị xã hội văn hóa của mỗi nước là yếu tố căn bản. Nhưng điều kiện tối thiểu phải có để đối lập được phép khởi đầu và phát triển.
Vả lại, vì thiếu đối lập mà Cộng sản và những phần tử phản Dân chủ nắm mất chính nghĩa đối lập và lợi dụng khai thác những bất mãn, than phiền của quần chúng.
Vậy để tránh mọi sự ngộ nhận giữa chính quyền và nhân dân, để cho trạng thái tinh thần khủng hoảng của dư luận được thể hiện một cách ôn hòa, để cho phần tử phiến loạn hết cơ hội lợi dụng tuyên truyền và khai thác, vấn đề đối lập tự do và xây dựng cần phải được đặt ra. Và như thế không những trong những nước tiền tiến, mà chính ngay trong những tân quốc gia, công cuộc kiến quốc và cứu quốc, công cuộc xây dựng nền Dân chủ phải là kết tinh của hoạt động song phương giữa chính quyền và đối lập.
Nguyễn Ngọc Huy & Nguyễn Văn Bông


baotoquoc.com

No comments:

Post a Comment