Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
- Hôm Thứ Ba 21 Tháng Sáu, Ngân hàng Thế giới và Văn phòng Liên Hiệp
Quốc về Ma túy và Tội ác, gọi tắt là UN-O.D.C. vừa công bố một báo cáo
đáng chú ý. Đó là "Những Rào cản trong việc Thu hồi Tài sản bị Thất
thoát".
Xuất phát từ sáng kiến do Văn
phòng O.D.C. của Liên hiệp quốc đề xướng năm 2007 nhằm thu hồi lại các
khoản tài sản của quốc dân bị đánh cắp, hai tổ chức quốc tế nói trên đã
nghiên cứu về những trở ngại và đưa ra nhiều đề nghị cho giới hữu trách
của các quốc gia. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về đề tài đặc biệt này qua
phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa do Vũ Hoàng thực
hiện.
AFP photo
Một nhân viên ngân hàng Trung Quốc đang xếp tiền đô la Mỹ và đồng NNT tại một ngân hàng ở tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc hôm 08/4/2010.
Tài sản của quốc dân
Vũ Hoàng: Xin
kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, Ngân hàng Thế giới vừa công
bố kết quả nghiên cứu hỗn hợp với Văn phòng Bài trừ Ma túy và Tội ác của
Liên hiệp quốc về việc thu hồi các khoản tài sản quốc dân đã bị thất
thoát. Khi được bản tin của Ngân hàng Thế giới phổ biến cho truyền thông
về công trình nghiên cứu này, chúng tôi tò mò về ba chuyện, thứ nhất là
tài sản thất thoát, thứ nhì là nỗ lực thu hồi, và thứ ba là những cản
trở trong việc thu hồi đó.
Vì vậy, mục Diễn đàn Kinh tế kỳ này đề nghị ông trình bày cho vấn đề và công trình nghiên cứu nói trên, và như thông lệ, xin ông nói về bối cảnh của câu chuyện....
Nguyễn Xuân Nghĩa: Trong
lĩnh vực truyền thông, chúng tôi được tham khảo tài liệu này một ngày
trước với yêu cầu là chỉ phổ biến ngày Thứ Ba 21, theo giờ quốc tế. Xin
nói ngay rằng đây là một phúc trình chuyên môn về pháp lý của một vấn đề
phức tạp vì liên hệ đến chuyện quốc gia và quốc tế, và bao trùm lên
nhiều lĩnh vực khác nhau, từ kinh tế đến chính trị, từ viện trợ đến
ngoại giao, từ hình sự đến chính sách....
Về
bối cảnh thì năm 2007, Văn phòng ODC của Liên Hiệp Quốc đề xuất một
sáng kiến gọi là "Thu hồi Tài sản bị Đánh cắp" - Stolen Asset Recovery.
Lý do là tài sản quốc dân của nhiều nước đang phát triển đã bị đánh cắp
và tẩu tán nên gây thiệt hại xã hội cho các nước nghèo. Từ mười mấy năm
nay, con số mà các nước nghèo bị thất thoát như vậy có thể là từ 20 đến
40 tỷ đô la một năm, mà đa số lại do chính các viên chức nhà nước gây
ra. Trong 15 năm qua thì các nước chỉ thu hồi được có năm tỷ, một tỷ lệ
cực kỳ ít ỏi. Vì vậy, Liên Hiệp Quốc mới cùng Ngân hàng Thế giới nghiên
cứu phương cách lấy lại được các khoản tài sản đó. Bản báo cáo nêu ra 29
rào cản cho việc thu hồi và đưa ra tám nhóm đề nghị để cải tiến. Đó là
về bối cảnh, thưa ông.
Vũ Hoàng: Trước tiên, chúng ta hãy nói về định nghĩa. Thưa ông, thế nào là một tài sản bị ăn cắp hoặc bị thất thoát?
Nguyễn Xuân Nghĩa:
Tiếp tục nói về bối cảnh vấn đề thì xã hội nào cũng có tội ác, nạn tham
ô và ăn cắp. Nhưng trong các nước đang phát triển - tức là còn nghèo -
và lại bị ách độc tài, thì hiện tượng tội ác, tham nhũng và ăn cắp rất
dễ gom làm một và được chính guồng máy nhà nước "định chế hóa" - trong
ngoặc kép. Sự kiện đó khiến lãnh đạo có thể thu vét tài sản của quốc dân
và tẩu tán ra ngoài. Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc vào năm 2007,
trích dẫn một tác giả vào năm 2005 thì trên thế giới, tài sản bị đánh
cắp như vậy có thể lên đến từ 1.000 tới 1.600 tỷ đô la một năm. Mà phân
nửa là tại các nước đang phát triển! Một thí dụ ai cũng rõ là khi một
chế độ độc tài sụp đổ thì lãnh tụ hoặc thân tộc của họ có tài sản tới
mấy chục tỷ đô la và việc thu hồi lại khoản tiền đó để trả lại cho quốc
dân bị bóc lột đã trở thành vấn đề của quốc tế.
Trả
lời cho câu hỏi của ông về định nghĩa, ta có thể nhìn ra nhiều cấp khác
nhau. Một tổ chức tội ác như buôn bán ma túy cũng thụ đắc, tẩu tán và
còn rửa sách các khoản tiền bất chính này. Trong các nước giàu, người ta
cũng có thể tẩu tán tài sản hoặc đầu tư ra ngoài để tránh thuế chẳng
hạn. Trong các nước nghèo, giới chức cao cấp trong đảng cầm quyền hay bộ
máy nhà nước cũng có thể ăn cắp tài sản quốc dân và chuyển ra ngoài.
Một thí dụ nóng hổi là cách đây một tuần, hôm 13 vừa qua, chính Ngân
hàng Trung ương của Bắc Kinh cũng vừa báo động là viên chức nhà nước, đa
số trong lĩnh vực an ninh, lại đánh cắp tài sản quốc dân đến khoảng 123
tỷ đô la trong những năm từ 1995 đến 2008 và tẩu tán ra nước ngoài qua
tám ngả khác nhau! Đây là con số chính thức chứ con số thật thì hiển
nhiên là phải cao hơn.
Trong đề tài
chúng ta đang tìm hiểu thì Ngân hàng Thế giới và các cơ quan chuyên môn
của Liên hiệp quốc tập trung chú ý đến loại tài sản bị viên chức nhà
nước ăn cắp theo nhiều cách khác nhau và tuồn ra ngoài. Từ nhiều năm
nay, họ thấy ra hậu quả của hiện tượng này là sự bất công cho dân nghèo
và tai họa cho xã hội về mặt chính sách và pháp chế nên tìm cách thu hồi
lại.
Rất khó thu hồi
Vũ Hoàng: Và
theo như ông vừa trình bày, họ còn thấy ra đến 29 rào cản cho việc thu
hồi này. Thế các rào cản như vậy là những gì, mà vì sao lại có quá nhiều
như vậy?
Một nhà đầu tư chứng khoán ở Hà Nội hôm 25/3/2008. Ảnh minh họa. AFP photo
Nguyễn Xuân Nghĩa: Kết quả nghiên cứu của các chuyên gia quốc tế nêu ra ba nhóm rào cản hay những khó khăn khác nhau của việc thu hồi.
Thứ
nhất là sáu trở ngại tổng quát thuộc lĩnh vực định chế là lĩnh vực tâm
lý và chính sách có khả năng chi phối cách hành xử. Các trở ngại đó gồm
có sự thiếu tin cậy; thiếu một chính sách nhất quán; thiếu phương tiện;
thiếu sự tham gia đồng bộ vào các biện pháp được quốc tế đề ra; thiếu
phối hợp giữa các cơ quan hữu trách; v.v...
Thứ hai là rất nhiều, có đến 14 loại, trở ngại về pháp lý khiến thủ tục tiến hành việc thu hồi bị chậm trễ, nhiêu khê, tốn kém và chưa hiệu quả. Các luật gia đang tiến hành nghiệp vụ này trong thực tế đã nêu ra những khó khăn muôn mặt về pháp lý nên cũng đề nghị một số biện pháp đối phó khá độc đáo.
Thứ hai là rất nhiều, có đến 14 loại, trở ngại về pháp lý khiến thủ tục tiến hành việc thu hồi bị chậm trễ, nhiêu khê, tốn kém và chưa hiệu quả. Các luật gia đang tiến hành nghiệp vụ này trong thực tế đã nêu ra những khó khăn muôn mặt về pháp lý nên cũng đề nghị một số biện pháp đối phó khá độc đáo.
Thứ
ba là chín loại rào cản thuộc lĩnh vực điều hành hay nghiệp vụ, từ
chuyện thiếu thông tin đến yêu cầu tập trung giải quyết cốt lõi của vấn
đề, từ tinh thần thiếu biến báo sáng tạo đến các khó khăn khá cụ thể như
thiếu kế toán công khai, không có khả năng tham khảo hồ sơ của các ngân
hàng nước ngoài, v.v...
Nói chung
thì sáng kiến đã có, một số khí cụ pháp lý để tiến hành việc thu hồi tài
sản bị đánh cắp cũng đã có, nhưng cần có sự phối hợp và cải tiến cho
tinh vi hơn thì mới đạt kết quả.
Vũ Hoàng: Từ
chuyện đó, chúng ta bước qua phần đề nghị. Báo cáo này có đưa ra tám
nhóm đề nghị khác nhau, thưa ông, nội dung các đề nghị đó là những gì?
Nguyễn Xuân Nghĩa:
Nếu đối chiếu với các trở ngại nhiều mặt được quy vào ba loại khác nhau
thì tám loại đề nghị có tính chất chỉ đạo ấy cũng có thể được xem như
để giải quyết từng loại trở ngại. Chúng ta cần xin lỗi quý thính giả vì
sẽ nói về chuyện trừu tượng nhức đầu!
Thứ
nhất là về mặt định chế. Nếu có thực tâm giải quyết, quốc gia nên quyết
liệt nêu quyết tâm thi hành một chính sách và chiến lược minh bạch,
rộng lớn, bền bỉ và có phối hợp. Chiến lược đó phải đưa tới chính sách
có đặc tính chủ động chứ không thụ động, linh hoạt và biến báo, công
khai và trong sáng, chứ không nên viện dẫn lý do thoái thác, như vì
quyền lợi kinh tế chẳng hạn.
Thứ hai,
về các trở ngại pháp lý, ta thấy ra hai cấp thẩm quyền là truy tố tội
phạm và thu hồi tài sản phi pháp. Đề nghị ở đây là phải có phương cách
hay khảo hướng linh hoạt và chủ động, để kết hợp cả hai. Việc truy tố về
hình sự cần được phối hợp với nhu cầu thu hồi tài sản và đòi hỏi nhiều
thủ tục pháp lý về thời gian như kéo dài hạn kỳ hồi hiệu, và về không
gian như bãi bỏ chế độ bí mật ngân hàng trong các vụ án có tính chất
quốc tế. Cụ thể là tài sản tấu tán ra ngoài mà được cất giữ trong ngân
hàng ngoại quốc thì phải tìm cho ra và lấy về cho hết!
Thứ
ba, về loại rào cản trong điều hành và liên lạc khi thi hành nghiệp vụ
thì bản báo cáo đề nghị xây dựng tinh thần tin cậy và trao đổi thông tin
giữa các giới chức hữu trách, thúc đẩy việc huấn luyện nhân viên điều
tra, các thẩm phán và công tố viên về tiêu chuẩn luật pháp quốc tế. Tinh
thần chủ đạo ở đây là thông tin và hợp tác từ cấp quốc gia ra quốc tế
để giới chức có nhiệm vụ thu hồi tài sản hoàn tất được nhiệm vụ.
Nói
chung, đây là các đề nghị chính yếu và thiên về lĩnh vực pháp lý xuất
phát từ kinh nghiệm thực tế của hơn 50 viên chức đã phải thi hành nhiệm
vụ này, cho nên nếu chúng ta không có những vụ án cụ thể hoặc thí dụ rõ
ràng thì thấy là quá trừu tượng và khó hiểu.
Trường hợp VN
Vũ Hoàng: Quả
thật là nếu không đặt các hồ sơ này trong khung cảnh thực tế và có kiến
thức cơ bản về pháp lý thì mình khó mường tượng ra nội dung của vấn đề
và các phương thức cải tiến. Câu hỏi cuối, thưa ông, nói riêng về trường
hợp Việt Nam, ông có nhận định gì về hồ sơ này?
Trụ sở chính của tập đoàn Vinashin tại Hà Nội. AFP photo
Nguyễn Xuân Nghĩa: Tài
liệu nghiên cứu chú trọng đến vấn đề thu hồi tài sản bị thất thoát với
các thủ tục sai áp và tịch thu để bồi hoàn cho quốc gia bị ăn cắp. Nhưng
vấn đề là vì sao quốc gia lại bị ăn cắp tới bạc tỷ năm này qua năm
khác? Và vì sao viên chức nhà nước lại có thể tẩu tán tài sản ra ngoài?
Vì sao nhiều doanh nghiệp quốc tế còn tham dự vào các nghiệp vụ tham ô
và tẩu tán này trong các nước nghèo? Tại sao các nước công nghiệp hóa và
có hệ thống luật pháp tinh vi phải bước vào giúp các nước đang phát
triển, là nhóm quốc gia cứ đòi vượt qua các nước tiên tiến mà vẫn để xảy
ra nạn tham ô và tẩu tán tài sản? Vì sao người ta tiếp tục viện trợ và
hợp tác với các chế độ độc tài dù biết rằng tham nhũng và ăn cắp là
thuộc tính của độc tài?
Nói về trường
hợp Việt Nam, hay cả Trung Quốc mà tôi vừa nhắc đến ở trên, nạn tham
nhũng, cướp đất của dân hoặc đảng viên cán bộ đầu tư giả tạo mà thực
chất là tẩu tán tài sản ra ngoài, loại hiện tượng ấy đã thành công khai
rõ ràng. Cụ thể là một năm người Việt ở nước ngoài gửi về cho thân nhân
cỡ tám tỷ đô la tiền tươi, dưới dạng chính thức chứ chưa nói đến hình
thức khác.
Con số ấy cũng bằng mức
tăng trưởng một năm của cả nền kinh tế quốc dân! Chả hóa ra là có tiền
trút vào thì cũng có tiền tuồn ra, tối thiểu là một ngân khoản tương
đương, rồi chuyển qua Mỹ hoặc ký thác vào một ngân hàng ở Singapore
chẳng hạn! Làm sao ngăn cản được điều ấy khi thế giới vẫn viện trợ cho
Việt Nam mà không nêu điều kiện là chính quyền phải cải thiện cơ chế và
hợp tác với quốc tế một cách cụ thể, để thứ nhất, không cho cán bộ ăn
cắp nữa, thứ hai, để thu hồi lại tài sản bất chính?
Tôi
thiển nghĩ rằng sự sụp đổ của các nước Á Rập độc tài vừa qua là một hồi
chuông cảnh báo khiến các nước dân chủ Tây phương phải duyệt lại đối
sách ngoại giao, viện trợ và thủ tục pháp lý để không dung dưỡng chế độ
độc tài rồi mất cả chục năm điều tra, truy cứu và kiện tụng mà có khi
vẫn chẳng thu hồi được tài sản đã bị đánh cắp, được chuyển qua các nước
Tây phương và còn được các ngân hàng Tây phương bảo vệ bằng một dàn luật
sư và một rừng luật lệ!
Cho nên, tòa
đại sứ nước cấp viện, là các nước viện trợ chính thức, cần được huy
động vào việc này để giải thích rõ ràng. Và thực tế thì luật lệ tại các
nước cấp viện về chống tham nhũng, rửa tiền và chuyển ngân phi pháp phải
được chấp hành và họ nên nêu ra một số vụ án làm gương. Một thí dụ nóng
hổi là việc Interpol đang truy nã hai giới chức cao cấp của tập đoàn
Vinashin trong khi tám người khác đang còn ở trong tù mà chẳng viên chức
lãnh đạo nào bị khiển trách. Việt Nam và các nước liên hệ lẫn các ngân
hàng cho vay phải làm cho vụ này ra lẽ để biểu dương quyết tâm. Kết luận
thì nếu không chặn từ gốc mà chỉ chạy theo nhặt bạc lẻ thì người ta
chưa thực sự giải quyết được vấn đề!
Vũ Hoàng: Đài Á châu Tự do xin cảm tạ ông Nguyễn Xuân Nghĩa đã dành cho cuộc phỏng vấn này.
No comments:
Post a Comment